Hứa hẹn của WiMAX 2

Người đăng: vjnhhoa on Thứ Ba, 5 tháng 10, 2010

Dù đang đối mặt với khó khăn trong cuộc chạy đua 4G với đối thủ LTE, nhưng Liên minh WiMAX vẫn nỗ lực cải tiến công nghệ để giành một số thị trường tiềm năng.


WiMAX và LTE (xem thêm bài viết ID:A0809_126) được coi là 2 công nghệ mạng di động 4G. Trong cuộc đua lên 4G, tuy LTE đã giành ưu thế khi TeliaSonera là nhà khai thác dịch vụ di động (telco) đầu tiên trên thế giới thương mại hóa công nghệ LTE (ID:A1005_86) nhưng các thành viên trong Liên minh WiMAX (wimaxforum.org) đặc biệt là Intel vẫn tiếp tục nỗ lực, cải tiến và phát triển không ngừng để tiếp tục cuộc đua. WiMAX thế hệ thứ 2 (WiMAX Release 2 hay WiMAX 2) ra mắt được cho là "cú phản đòn" của WiMAX Forum với công nghệ LTE.

Nhóm WiMAX Forum khẩn trương đẩy nhanh tiến độ để phát hành phiên bản WiMAX thế hệ mới nhằm tìm kiếm một hướng đi mới trong thị trường viễn thông ngày càng có nhiều mối cạnh tranh tiềm ẩn, đặc biệt là nguy cơ vuột mất những thị trường béo bở ở các nước có mật độ dân số trẻ, lượng người sử dụng đông như Ấn Độ (một trong 3 nước có dân số đông nhất thế giới) và một số nước đang phát triển khác – khu vực đang tiến lên 3G và có kế hoạch triển khai WiMAX trên diện rộng, số người sử dụng dịch vụ đang tăng nhanh, chủ yếu là điện thoại và Internet.
Các hãng tham gia dự án WiMAX gồm Alvarion, Beceem, GCT Semiconductor, Intel, Motorola, Samsung, Sequans, XRONet, ZTE, tổ chức nghiên cứu Đài Loan, Viện nghiên cứu công nghệ công nghiệp (ITRI - Industrial Technology Research Institute) cùng với WiMAX Forum đang nổ lực đẩy nhanh tiến độ hiện thực hóa tính tương thích giữa các thiết bị WiMAX 2 với mục tiêu chung là tăng tốc độ băng thông di động lên mức 300Mbps.

Song song đó, nhóm làm việc này còn cung cấp nhiều giải pháp cho hơn 100 nhà khai thác Mobile WiMAX trên toàn thế giới. Trong một thông cáo báo chí chung vào tháng 6 vừa qua, Intel cùng các hãng như Samsung, Motorola cho biết các hãng này tham gia vào nhóm mới với tên là WiMAX 2 Collaboration Initiative (Sáng kiến cộng tác WiMAX 2) nhằm thúc đẩy sự phát triển của chuẩn (IEEE 802.16m) và thiết bị công nghệ WiMAX 2. Nhóm sẽ cộng tác với WiMAX Forum (tổ chức công nghiệp chứng nhận và xúc tiến các sản phẩm WiMAX) và dự kiến sẽ đưa ra đặc tả kỹ thuật cuối cùng vào năm 2011 và bắt đầu triển khai thương mại vào năm 2012.
Đặc tả kỹ thuật của WiMAX 2 được xây dựng trên IEEE 802.16m và kế thừa công nghệ WiMAX (IEEE 802.16e) trước đó bằng cách thêm các tính năng mới mà vẫn đảm bảo khả năng tương thích ngược. Đại diện Intel phát biểu trong một cuộc hội nghị với báo giới tại Đài Loan rằng mạng WiMAX 2 có thể sẽ được triển khai trước năm 2012.

Clearwire, một telco lớn tại Mỹ và cũng là đối tác chiến lược của Intel đã thương mại hóa dịch vụ WiMAX và đang lên kế hoạch thử nghiệm WiMAX 2 vào năm tới với hy vọng sẽ triển khai thương mại vào năm 2012. Phụ trách Liên minh WiMAX cho biết thời gian triển khai 802.16m sẽ rút ngắn hơn rất nhiều so với 802.16e trước đây bởi phiên bản mới vẫn kế thừa nhiều tính năng nổi trội sẵn có của WiMAX (trong đó có MIMO, beamforming....) cùng với những kinh nghiệm "xương máu" trong quá trình thương mại 802.16e, thậm chí là cả những kinh nghiệm đúc kết từ LTE.
Kiến trúc WiMAX 2

Điểm cải thiện nổi bật của WiMAX 2 so với WiMAX thế hệ đầu tiên là tốc độ - tốc độ WiMAX 2 lên đến 300Mbps. Ông Shakouri thành viên WiMax Forum cho biết trọng tâm của WiMAX 2 là làm thế nào để có được tốc độ truyền dữ liệu cao hơn nhằm đáp ứng cho tất cả các khách hàng với số lượng người sử dụng ngày một tăng cao.
Đặc tả kỹ thuật của WiMAX 2 hỗ trợ các tính năng nổi bật:

Tương thích ngược: WiMAX 2 đảm bảo khả năng tương thích ngược và cùng tồn tại với chuẩn trước đó. Trạm gốc (BS - Base Station) 802.16m sẽ làm việc với thiết bị đầu cuối 16e và 16m. Những telco đang sử dụng 16e hiện tại sẽ có 2 hướng lựa chọn: chuyển một phần sang 16m hay chuyển tất cả. Kiến trúc khung của 16m có khả năng tồn tại song song với hệ thống 16e.

Băng tần của WiMAX 2: Như chúng ta đã biết, phiên bản WiMAX đầu tiên hoạt động trên các băng tần 2,3GHz, 2,5GHz và 3,5GHz. Phiên bản 1.5 hoạt động trên băng tần 1,7GHz và 2,1GHz. WiMAX 2 hỗ trợ cả 2 dải băng tần của hai phiên bản trước đó.
Đặc tả kỹ thuật của WiMAX 2 hỗ trợ các tính năng nổi bật:

Tương thích ngược: WiMAX 2 đảm bảo khả năng tương thích ngược và cùng tồn tại với chuẩn trước đó. Trạm gốc (BS - Base Station) 802.16m sẽ làm việc với thiết bị đầu cuối 16e và 16m. Những telco đang sử dụng 16e hiện tại sẽ có 2 hướng lựa chọn: chuyển một phần sang 16m hay chuyển tất cả. Kiến trúc khung của 16m có khả năng tồn tại song song với hệ thống 16e.

Băng tần của WiMAX 2: Như chúng ta đã biết, phiên bản WiMAX đầu tiên hoạt động trên các băng tần 2,3GHz, 2,5GHz và 3,5GHz. Phiên bản 1.5 hoạt động trên băng tần 1,7GHz và 2,1GHz. WiMAX 2 hỗ trợ cả 2 dải băng tần của hai phiên bản trước đó.
ập hợp đa sóng mang: Phổ tần linh hoạt được tạo ra thông qua sự phối hợp giữa khả năng đa truy cập OFDMA (Orthogonal Frequency Division Multiple Access) trong hướng tải xuống và tải lên, các kỹ thuật giảm âm (tone dropping) trong OFDMA cũng như sử dụng một hay nhiều thành phần sóng mang vô tuyến (RF – Radio Frequency). Các thành phần sóng mang được tập hợp để tạo nên băng thông truyền dẫn lên đến 100MHz. Việc tập hợp các thành phần sóng mang có thể liên tục hoặc không liên tục trong vùng tần số. IEEE 802.16m hỗ trợ băng thông có độ rộng 5MHz, 10MHz, 20MHz và 40MHz (tùy chọn) với một tập hợp đa sóng mang lên đến 100MHz.

Chất lượng dịch vụ (QoS): QoS là một giao thức quan trọng trong IEEE 802.16m, được sử dụng trong việc phân bổ tài nguyên vô tuyến và lưu lượng theo lịch trình. QoS có thể kiểm soát hướng tải lên. Ngoài ra, WiMAX 2 còn có độ trễ khá thấp, điều này sẽ giúp các dịch vụ VoIP trở nên thông suốt hơn. Người sử dụng sẽ có thể sử dụng dịch vụ ngay cả khi đang di chuyển với tốc độ 350km/giờ.

Hiện thực sản phẩm

WiMAX 2 hiện đang trong quá trình hoàn thiện các đặc tả kỹ thuật và theo lộ trình mà Liên minh WiMAX đưa ra, có lẽ năm sau sẽ có sản phẩm hỗ trợ phiên bản mới này. Hiện tại trên thị trường đã có sản phẩm WiMAX, tuy không nhiều và phong phú như LTE.
Sản phẩm WiMAX băng tần 3,5GHz chính thức được WiMAX Forum cấp chứng nhận và công bố vào năm 2006 và đến nay đã có khá nhiều hãng tham gia sản xuất. Vừa qua, WiMAX Forum tiếp tục công bố các sản phẩm di động hỗ trợ WiMAX tần số 2,3GHz và đến thời điểm này 3 băng tần 2,3GHz, 2,5GHz và 3,5GHZ đều có sản phẩm được cấp chứng nhận.

Trong đó, Samsung là một trong những nhà cung cấp thiết bị Mobile WiMAX đầu tiên được cấp chứng nhận cho sản phẩm hỗ trợ công nghệ anten MIMO tần số 2,3GHz. Ông Woonsub Kim, Phó chủ tịch điều hành kiêm trưởng nhóm kinh doanh hệ thống viễn thông của Samsung cho biết, đây là cơ hội tốt cho Samsung giới thiệu giải pháp Mobile WiMAX tối ưu đến thị trường Ấn Độ. Mobile WiMAX đã thay đổi lối sống của người dân với sức mạnh chưa từng có, giúp mọi người trên toàn cầu tận hưởng Internet di động ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào với một mức giá hợp lý. Đến thời điểm này, Samsung đã có các sản phẩm được cấp chứng nhận ở tất cả 3 băng tần, gồm: MIMO 2,3GHz (tháng 6/2010); 3,5GHz (tháng 2/2009); 2,5GHz (tháng 6/2008) và 2,3GHz (tháng 4/2008). Bên cạnh đó, còn có nhiều hãng khác như Huawei hiện cũng đã có BS DBS3900 WiMAX được cấp chứng nhận (chuẩn 802.16e). Tại CES 2009, các hãng đã trình diễn sản phẩm WiMAX:
Theo WiMAX Forum, đã có hơn 205 sản phẩm Mobile WiMAX được cấp chứng nhận. Hiện tại, có hơn 25 công ty thành viên của WiMAX Forum sản xuất các trạm gốc (BS –Base station) WiMAX và 47 công ty sản xuất và cung cấp thiết bị đầu cuối. WiMAX Forum ước tính sẽ có hơn 1000 sản phẩm Mobile WiMAX thương mại vào năm 2011. Liên minh này cũng có 6 phòng thí nghiệm tại các nước như Trung Quốc, Hàn Quốc, Tây Ban Nha, Mỹ và 2 phòng thí nghiệm tại Đài Loan (ADT và TTC/CS) sẵn sàng tiếp nhận sản phẩm để kiểm tra và cấp chứng nhận. Tại Mỹ, Sprint và Clearwire đã triển khai WiMAX và nhóm phóng viên PC World Mỹ đã trải nghiệm dịch vụ hấp dẫn này, mời bạn xem chi tiết tại trang 14.

Việt Nam đã có 5 nhà cung cấp dịch vụ di động là VNPT/VDC, EVN Telecom, FPT Telecom, Viettel và VTC được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp giấy phép thử nghiệm Mobile WiMAX và trong số đó đã triển khai thử nghiệm (VNPT/VDC, EVN Telecom và FPT Telecom). Tuy nhiên, đến nay hầu hết các nhà cung cấp này đều chưa có động thái rõ ràng nào về việc thương mại hóa sản phẩm Mobile WiMAX; tình trạng tương tự đối với Mobile WiMAX 2. Hy vọng, trong tương lai gần, Liên minh WiMAX sẽ có những chính sách thương mại hấp dẫn về Mobile WiMAX 2 để thu hút sự quan tâm của các telco Việt Nam cũng như các quốc gia trên thế giới.
Song Minh
More about

Tốc độ của trung tâm dữ liệu thế hệ mới: 40Gb/s và 100Gb/s

Người đăng: vjnhhoa

Khi công nghệ 10Gbps đang được ứng dụng phổ biến trong các tòa nhà cũng như trung tâm dữ liệu thì các sản phẩm hỗ trợ tốc độ 40Gbps và 100Gbps cũng đang được phát triển và chuẩn hóa, rồi, ứng dụng thực.



Tại sao phải 40Gbps và 100 Gbps?
Giao thức Ethernet tiếp tục những thành công vượt trội trong ngành công nghiệp truyền thông từ tốc độ ban đầu 10Mbps vào năm 1983, khi còn sử dụng cáp đồng trục. Chỉ trong vòng chưa đầy 1 thập kỷ, tiêu chuẩn này đã được mở rộng cho hệ thống cáp đồng xoắn đôi và cáp quang. Từ đó đến nay, tốc độ truyền dữ liệu không ngừng gia tăng: cứ 3 năm thì tốc độ tăng 10 lần, và đạt đến tốc độ 10 Gbps bằng cáp quang vào đầu thiên niên kỷ này. Tuy nhiên với tốc độ bùng nổ thông tin như hiện nay, 10Gbps không phải là hạn chế cũng như đích cuối cùng của công nghệ. Khi công nghệ 10Gbps đang được ứng dụng phổ biến trong tòa nhà cũng như Data Center trên thế giới và Việt Nam thì các sản phẩm hỗ trợ tốc độ 40Gbps và 100Gbps cũng đang được phát triển và chuẩn hóa, rồi, ứng dụng trong thực tế.
Tốc độ 40Gbps và 100 Gbps là gì?

Tiêu chuẩn quốc tế cho tốc độ 40Gbps và 100Gbps được soạn thảo bởi IEEE là IEEE 802.3ba. Một số tiêu chuẩn khác đã được ban hành cho tốc độ 40Gbps và 100 Gbps trên hệ thống cáp quang là TIA-492AAAC (cáp quang OM3) và TIA-492AAAD (Cáp quang OM4). Khoảng cách truyền dẫn tối thiểu trên trên hệ thống cáp quang đối với tốc độ 40Gbps và 100 Gbps lần lựợt là 10 - 40 km cho cáp quang đơn mốt (Singlemode) và 100 km cho hệ thống cáp quang đa mốt (Multimode). Đối với cáp đồng, khoảng cách tối thiểu đảm bảo tốc độ truyền dẫn là 10 m. Phương tiện truyền dẫn tốc độ 40Gbps và 100 Gbps là hệ thống cáp quang OM3&4 và cáp đồng xoắn đôi.

Hiện nay, hệ thống cáp đồng cho tốc độ 40 Gigabit Ethernet vẫn còn đang trong thời kỳ nghiên cứu dựa trên công nghệ cáp Catergory 7A, trong khi lựa chọn tốt nhất cho khách hàng hiện nay vẫn là các giải pháp cáp đồng 10 Gigabit/s theo chuẩn Category 6A. Để đạt tốc độ 40Gbps trên hệ thống cáp quang, giải pháp này sẽ cần 8 sợi cáp quang đóng vai trò gửi và nhận với tốc độ 10 Gbps trên mỗi sợi cáp quang. Cũng như vậy, với tốc độ 100 Gbps, sẽ cần 20 sợi cáp quang, mỗi sợi cung cấp băng thông truyền hoặc nhận tại tốc độ 10 Gbps.
Khi nào “có” 40Gbps và 100Gbps?
Hiện nay, các sản phẩm cho tốc độ 40 Gbps đã được sản xuất. Hệ thống cáp cấu trúc hiện đã có các sản phẩm cáp quang OM3&OM4 Singlemode và MPO cung cấp băng thông đáp ứng tốc độ tối thiểu 10Gbps. Các thiết bị đáp ứng tốc độ 40 Gbps đã có trên thị trường trong khi sản phẩm cùng loại đáp ứng tốc độ 100 Gbps đã có nơi nhận đặt hàng.

Nơi cần 40Gbps và 100Gbps Ethernet đầu tiên

Đó chính là trung tâm dữ liệu của các nhà cung cấp dịch vụ vốn thường xuyên đối mặt với yêu cầu truyền dẫn dữ liệu với khoảng cách xa trên hệ thống cáp quang Singlemode. Bên cạnh đó, các yêu cầu truyền dẫn các dữ liệu dạng video, hình ảnh, các máy tính hiệu suất cao và nhu cầu ảo hóa cũng yêu cầu tốc độ mạng 40Gbps và 100 Gbps.
Sẵn sàng cho cơ sở hạ tầng cáp

Lời khuyên cho nhà quản trị mạng là hãy lặp đặt hệ thống cáp trục bằng cáp quang OM3&4 và Singlemode để đáp ứng nhu cầu truyền dẫn tốc độ 10 Gbps. Hệ thống mạng nên được thiết kế sử dụng các sợi cáp quang dạng MPO và các cassette trên các tủ network với mật độ sợi quang từ 12 - 24 trên một sợi MPO đầu LC cho các kết nối tới Server và Swich. Khi cần nâng cấp lên tốc độ 40 Gbps, người quản trị mạng chỉ cần làm một thay đổi nhỏ trên hệ thống bằng cách thay các cassette MPO hiện có bằng các cassette truyền dẫn tốc độ cao hơn.

Kết luận

Với phương án thiết kế phù hợp, việc chuyển đổi hệ thống cáp từ 10 Gbps lên 40Gbps sẽ chỉ cần một vài sự thay đổi nhỏ. Trong 3 năm gần đây, các doanh nghiệp Việt Nam mới bắt đầu đầu tư hệ thống cáp 10Gbps cho trung tâm dữ liệu của mình. Sự đầu tư mạnh mẽ nhất diễn ra ở khối ngân hàng, tài chính và viễn thông. Trong khi đó, đa phần các trung tâm dữ liệu khác mới chỉ dừng ở tốc độ 1 Gbps. Câu chuyện lựa chọn hệ thống cáp hiện nay tại Việt Nam hiện vẫn còn xoay quanh các tranh cãi về hệ thống cáp bọc giáp hay không bọc giáp cho tốc độ 10 Gbps. Có một sự thú vị là hai thương hiệu cáp phổ biến nhất tại Việt Nam hiện nay là AMP NETCONNECT thuộc tập đoàn Tyco Electronics và Krone thuộc ADC Krone đang đề xuất 2 giải pháp ngược nhau. Trong khi AMP NETCONNECT kiên định phát triển giải pháp cáp bọc giáp thì Krone là thương hiệu đầu tiên đưa ra giải pháp cáp không bọc giáp tốc độ 10 Gbps tiệm cận tiêu chuẩn Cat6A. Với việc Tyco Electronics đã mua ADC Krone vào giữa tháng 7/2010 vừa qua, việc 2 nhà sản xuất này làm thế nào để sắp lại xếp hệ thống sản phẩm của mình sau khi hợp nhất sẽ là chuyện nhỏ nhưng hấp dẫn để theo dõi trong lĩnh vực công nghệ cáp truyền dẫn dữ liệu (các sản phẩm của Tyco tại Việt Nam được cung cấp bởi Công ty TNHH Hệ thống Tin học Viễn thông NDS, www.nds.com.vn).
Nguồn: NDS
More about

Trí tuệ nhân tạo trên thiết bị di động - Giờ G đã điểm

Người đăng: vjnhhoa

Nhiều hãng sản xuất thiết bị đã và đang phát triển hàng loạt phần cứng, phần mềm và thành phần khác có liên quan đến trí tuệ nhân tạo.

Trong lĩnh vực máy tính, trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence, TTNT) từ lâu đã trở thành lĩnh vực nghiên cứu, và thực tế cho thấy kết quả thu được không tốt như mong đợi, thậm chí có những ý tưởng được cho là mang tính đột phá song lại liên tục thất bại trong quá trình áp dụng trên các thiết bị, ứng dụng. Dẫu thế, các nhà khoa học vẫn tin rằng, một ngày nào đó, máy móc nói chung và máy tính cũng như thiết bị di động (TBDĐ) nói riêng sẽ trở nên thông minh hơn, hành xử giống con người hơn và từ đó trở nên đại chúng hơn.

Ở góc độ nào đó, TTNT mang đến TBDĐ khả năng tương tác thật hơn với con người, cung cấp những kết quả tìm kiếm nhanh và chính xác hơn, chẩn đoán và đưa ra những giải pháp có cơ sở hơn dựa trên kho dữ liệu chính là tri thức của con người. Ví dụ, các nhà nghiên cứu tại hãng IBM đã tạo ra một chiếc máy mang tên Watson, có khả năng xem xét qua hàng terabyte dữ liệu và trả lời những câu hỏi đầy phức tạp chỉ sau 3 đến 5 giây. Theo ông Dave Ferrucci, một quản lý cao cấp tại IBM, trong vài năm tới, một phiên bản phần mềm chạy trên Watson có thể "định cư" trên một chiếc máy tính bảng của bác sỹ để phân tích các kết quả thử nghiệm để cung cấp chẩn đoán phù hợp. Nó cũng có thể phân tích các số liệu thực tế của thị trường và đề xuất cách thức doanh nghiệp có thể cân đối lại các chiến lược đầu tư.

Nhiều hãng sản xuất đã và đang thực hiện các dự án phần mềm, phần cứng và giải pháp có liên quan đến TTNT, có thể kể đến như Intel, HP, Google, Apple, AT&T và Sprint Nextel. Tuy nhiên, để TTNT phát triển, trước tiên là bộ xử lý trên các TBDĐ phải mạnh mẽ hơn để cùng với hệ điều hành và các ứng dụng liên quan xử lý các tác vụ phức tạp hơn. Cạnh đó, khả năng kết nối mạnh linh hoạt và sự phát triển của mạng tốc độ cao cũng là yếu tố giúp TNTT phát triển. Rõ ràng là tiền của và công sức mà các hãng đã đổ vào TNTT không phải là con số nhỏ. Ví dụ, AT&T đã dành ra hơn 1 triệu giờ nghiên cứu công nghệ TNTT để có thể chuyển đổi các đoạn hội thảo thành văn bản hay thực hiện tác vụ tìm kiếm cho các câu truy vấn bằng giọng nói. Với Google, năm ngoái, hãng đã chi khoảng 2,84 triệu đô la Mỹ (2,84 triệu USD, ~55,6 tỷ đồng) cho công tác nghiên cứu và phát triển, trong đó có lĩnh vực TNTT.

Theo AT&T, trong năm nay, hãng này sẽ cho phép các lập trình viên tạo ra các ứng dụng di động có sử dụng thư viện TNTT của mình cũng như cho biết đang tìm kiếm những cách thức cho phép người dùng sử dụng khẩu lệnh để tìm kiếm hướng dẫn đường đi khi lái xe và kiểm soát các thiết bị điện tử dân dụng như tivi, dàn âm thanh. Trong khi đó, Google cũng kịp trình làng tính năng Google Instant có khả năng dự báo từ khóa tìm kiếm của người dùng hay tính năng Goggles có khả năng tìm kiếm nội dung dạng trực quan (visual search) cho máy tính cá nhân và hứa hẹn mang 2 giải pháp mới này lên TBDĐ vào cuối năm. Cạnh đó, Google còn có giải pháp Google Action cho điện thoại thông minh nền Android.

Với TNTT, người dùng có thể nghĩ đến viễn cảnh một chiếc điện thoại thông minh trong tương lai có thể tức thời dịch lại mọi cuộc đàm thoại, chuyển đổi ngôn ngữ cho email, hướng dẫn đường đi ở chế độ thời gian thực và thậm chí "trò chuyện" với chính chủ nhân. Tuy nhiên, TNTT không phải là bài toán đơn giản, có nhiều ứng dụng liên quan đến TNTT cần nhiều thời gian để giải quyết. Ví dụ, Intel đang phát triển 1 công nghệ có thể được tích hợp vào mũ và hoạt động như "máy đánh chữ thần kinh". Cụ thể, bằng cách quét sóng não, phần mềm có thể đoán được một người dùng đang nghĩ gì và dự đoán câu truy vấn tìm kiếm. Theo ông Dan Pomerleau, một nhà nghiên cứu tại phòng thí nghiệm của Intel thì một phiên bản mẫu (prototype) của phần mềm này đã nhận dạng được khoảng 60 từ như "airplane" (máy bay) và "celery" (cây cần tây). Cũng theo ông này, giải pháp của Intel có thể cần đến 10 năm cho công tác xây dựng xong kho từ vựng và đảm bảo độ chính xác để có thể áp dụng trong thực tế.

Cạnh đó, còn khá nhiều thách thức đang chờ đón TTNT, chẳng hạn như việc nhận dạng các đối tượng ngoài thực tế. Ví dụ, kích thước, hình dáng và sự chuyển động của các con vật (như mèo, chó...) có thể làm cho máy tính nói chung và trung tâm đầu não xử lý TNTT gặp nhiều bối rối.

Nhìn chung, TNTT hứa hẹn mang đến cho thiết bị số những lạc quan mới về tính năng và sự linh hoạt trong giao tiếp với con người. Song, vẫn còn đó nhiều thách thức với giới công nghệ trong quá trình ứng dụng các giải pháp TNTT vào thực tiễn.
Văn Tám
More about

OCZ phát minh ra mạch ghép nối ổ đĩa nhanh hơn SAS 3 lần

Người đăng: vjnhhoa

Giao thức mới được nhắm chủ yếu vào các ứng dụng điện toán hiệu năng cao.


OCZ Technology tiết lộ mạch ghép nối ổ đĩa độc quyền gọi là "High-Speed Data Link" (HSDL), dự kiến sẽ tăng cường vào/ra cho các ổ trạng thái rắn (SSD) trong những môi trường điện toán hiệu năng cao.

OCZ cho biết, họ phát triển HSDL bởi vì họ đã "không hài lòng" với các tùy chọn mạch ghép nối hiện tại, chẳng hạn như SATA (serial ATA) và SAS (serial-attached SCSI). Những mạch ghép nối này là quá chậm và tạo ra nghẽn cổ chai giữa các hệ thống và ổ đĩa của mình. OCZ khẳng định, HSDL có khả năng chạy ở tốc độ lên đến 20Gbit/giây băng thông dữ liệu mỗi kênh.

HSDL là một chuẩn mở, cho phép các thiết bị khác khai thác kết nối nội bộ tốc độ cao của mình. OCZ cho biết, hiện họ đang làm việc với các nhà sản xuất thiết bị để chấp nhận HSDL rộng rãi. Trong khi chờ đợi, card adapter 1 cổng (single port) sẽ được tung ra với mọi ổ SSD HSDL như ổ SSD "IBIS" 3,5-inch (~8,9 cm) sắp tới của công ty. Card 4 cổng (quad-port) cho nhiều cấu hình ổ đĩa cũng sẽ có sẵn cho những khách hàng tìm kiếm lưu trữ và băng thông lớn hơn, OCZ cho biết.

Giao thức HSDL sẽ nhanh hơn hơn 3 lần so với tốc độ 6Gbit/giây của SAS, hơn 6 lần so với tốc độ 3Gbit/giây hiện nay của SATA II. Hiện OCZ vẫn chưa đưa ra mốc thời gian để tung ra các sản phẩm với mạch ghép nối HSDL.
Nguồn: Computerworld
More about

Arm thêm đa luồng vào thiết kế chip

Người đăng: vjnhhoa

Arm có kế hoạch bổ sung các khả năng đa luồng cho những kiến trúc tương lai khi họ cố gắng tăng hiệu năng các bộ xử lý (BXL) của mình.
Công ty đang tìm cách để đưa vào những khả năng đa luồng tùy thuộc vào các yêu cầu ứng dụng trong nhiều phân khúc khác nhau, ông Kumaran Siva, một đại diện của Arm nói tại hội nghị Linley Tech Processor ở San Jose, California (Mỹ).

Arm phát triển các thiết kế BXL, sau đó cấp phép cho nhiều nhà sản xuất chip. Các chip dựa trên Arm đi vào hầu hết điện thoại thông minh của thế giới, và công ty đang cố gắng thâm nhập vào những lĩnh vực mới, bao gồm máy chủ, mạng và viễn thông. Công ty chưa đưa đa luồng vào lõi BXL Cortex-A15 (mới được thông báo trong tháng này). Cortex-A15 có thể thực hiện nhanh hơn lên đến 5 lần so với BXL “tiền bối” của nó.

Đa luồng là cách để chạy nhiều luồng trên một lõi BXL nhằm tăng hiệu năng ứng dụng. Các tính toán có thể được chia nhỏ trên nhiều luồng để mang lại kết quả nhanh hơn. Những BXL của Intel, IBM và Sun đều bao gồm các khả năng đa luồng trong chip.

Arm phải thêm đa luồng, nhất là khi công ty thêm nhiều lõi hơn cho chip và đi vào các lĩnh vực mới như máy chủ, nơi mà máy tính phải thực hiện tính toán nhiều hơn, nhà phân tích Jack Gold tại J. Gold Associates nói. Khả năng đa luồng cũng giúp quản lý đa lõi và các môi trường ảo hóa có hiệu quả, ông Gold cho biết.

Ông Siva từ chối bình luận về việc, liệu đa luồng có được đưa vào các BXL di động của Arm hay không. Nhưng thiết bị di động hiếm khi thực hiện (implement) xử lý đa luồng, và hầu hết ĐTDĐ chạy hoặc ứng dụng đơn luồng hoặc bao gồm nhiều lõi để chạy các tác vụ đồng thời.

Arm từ chối cho biết khi nào họ sẽ phát hành các thiết kế BXL mới.
Nguồn: IDG News Service
More about

Thách thức từ xử lý đa nhân

Người đăng: vjnhhoa


Việc phát triển ứng dụng cho máy tính bảng và điện thoại thông minh sẽ trở nên thách thức hơn khi thế hệ bộ xử lý đa nhân trở nên đại trà trên các thiết bị di động.
Tại hội nghị Linley Tech Processor diễn ra vào 2 ngày 27/9 và 28/9/2010 ở San Joe (Mỹ), nhiều chuyên gia đồng tình với ý kiến cho rằng việc phát triển ứng dụng cho các thiết bị di động (TBDĐ) như máy tính bảng (tablet) và điện thoại thông minh (ĐTTM) sẽ thách thức hơn khi khả năng tăng tốc của bộ xử lý và các thành phần phần cứng khác được bổ sung vào chip sử dụng trong TBDĐ.

Các nhà sản xuất chip đang đi theo hướng này bởi vì trước hết, tính hiệu quả về điện năng sẽ giúp đẩy mạnh hiệu năng của các ứng dụng chạy trên máy tính bảng hay ĐTTM. Hầu hết TBDĐ hiện nay chỉ sử dụng 1 nhân BXL trên 1 con chip, tuy nhiên máy tính bảng và ĐTTM sử dụng chip 2 hay 3 nhân được hy vọng sẽ sớm có mặt trong năm tới.

Theo ông Linley Gwennap, Chủ tịch kiêm phân tích viên chính tại Linley Group, điều đó có nghĩa là các ứng dụng phải được viết lại để khai thác ưu điểm của những thành phần phần cứng mới. "Nhiều việc cần được thực hiện bên trong ứng dụng/phần mềm để tận dụng tốt hơn hiệu năng xử lý của các chip đa nhân, và đó có thể là một thách thức", ông Gwennap cho biết.

"Những gì chúng ta trông đợi ở ĐTDĐ là các ứng dụng cần được thay đổi để sử dụng BXL thứ 2", Gwennap tiếp lời, "Việc này cần chút thời gian trước khi các ứng dụng sẵn sàng". Tuy nhiên, đó lại là thách thức mà cộng đồng lập trình viên dường như mong muốn đối mặt. Số lượng ĐTTM và máy tính bảng bán ra đang tăng nhanh và nhiều hãng đang gấp rút hoàn thành những ứng dụng mới được thiết kế để đón đầu nhu cầu của thị trường đầy sức nóng này.

Các mẫu ĐTTM mới như Apple iPhone 4, Motorola Droid X và HTC Evo 4G đều trang bị BXL nhanh nhất từ trước đến giờ, hiện ở mức xung nhịp 1GHz. Trong khi đó, máy tính bảng hiện được dẫn dắt bởi Apple iPad nhưng con át chủ bài của "quả táo" trong năm 2010 này đang gặp phải sự thách thức đáng kể từ sản phẩm Samsung Galaxy Tab cũng như Toshiba Folio 100, và gần đây nhất là PlayBook từ Research in Motion - tất cả sử dụng BXL tốc độ 1GHz.

Bên cạnh mục tiêu xử lý đa nhiệm tương tự trên máy tính cá nhân, TBDĐ đang trong quá trình dịch chuyển từ các tính năng thoại và tin nhắn cơ bản sang các dịch vụ liên quan nhiều hơn đến dữ liệu, và đó cũng là lý do các ứng dụng cần duy trì tính kết nối lâu hơn - bà Kannan Parthasarathy, kỹ sư tại hãng Byte Mobile nhận định. "Khởi đầu với việc lướt web, bây giờ người dùng bắt đầu xem phim trên TBDĐ", bà Kannan nói.

Các ứng dụng liên quan đến mạng xã hội cũng có nhu cầu kết nối liên tục và điều này đòi hỏi nhiều điện năng hơn cũng như cải thiện khả năng kết nối mạng. Để tiết kiệm nguồn pin, các nhà phát triển cần hiểu rõ các ứng dụng di động, dịch vụ và kết nối, đồng thời phân bổ các tác vụ cho từng nhân và luồng xử lý - đại loại như xử lý song song trong lập trình hay xử lý đa luồng trong máy tính cá nhân.

Các hệ điều hành dành cho nền tảng di động như Android của Google đã gần như sẵn sàng hỗ trợ 2 BXL ở mức hệ điều hành, từ đó bước đầu giảm sự căng thẳng cho các lập trình viên. Tuy nhiên, theo ông Gwennap, khi chip trên TBDĐ chứa nhiều nhân xử lý hơn thì sẽ dẫn đến sự phức tạp trong việc triển khai, thực thi đồng thời các tác vụ này trên nhiều nhân. Được biết, Qualcomm và Nvidia từng công bố các chip với 2 BXL dựa trên thiết kế ARM dành cho ĐTTM và máy tính bảng, trong khi đó hãng Marvell cũng đã trình làng 1 chip với 3 nhân xử lý. Nhìn xa hơn, trong tương lai, số nhân trên 1 chip di động sẽ tăng lên cùng thời gian khi mà các TBDĐ đòi hỏi hiệu năng cao hơn trong khi vẫn có thể tiết kiệm điện năng.

“Khi đạt đến giới hạn 4 nhân xử lý…, bạn thực sự phải bắt đầu biết cách giải phóng hệ điều hành”, Gwennap cho biết. Các chip dựa trên thiết kế ARM cũng có khả năng tắt nhân xử lý để tiết kiệm điện năng. Tuỳ thuộc vào cấu trúc của chip, nhiều thay đổi ở cấp hệ điều hành và ứng dụng cũng sẽ cần có trên máy tính bảng và ĐTTM để khai thác tính năng tiết kiệm năng lượng. “Vấn đề là cách bạn điều chỉnh một BXL Marvell sẽ khác cách bạn điều chỉnh 1 BXL Qualcomm. Các hệ điều hành đang phải tạo ra các mô-đun riêng biệt cho mỗi loại điện thoại. Mọi thứ đang bắt đầu trở nên phức tạp”, Gwennap nhìn nhận.

Ngoài BXL, các nhân xử lý được thiết kế chuyên biệt và các bộ tăng tốc phần cứng đã được bổ sung vào các chip trên TBDĐ cũng sẽ giúp tăng hiệu năng và giảm lượng điện năng tiêu thụ. Tuy nhiên, những nhân xử lý chuyên biệt dạng này lại làm giảm tính linh hoạt của ứng dụng bởi vì chúng yêu cầu các hàm API riêng biệt để đáp ứng từng ứng dụng cụ thể. “Nhược điểm của bộ tăng tốc phần cứng là chúng giảm tính linh hoạt của ứng dụng”, Gwennap cho biết.

Thực tế cho thấy, vài ứng dụng như dựng phim đã được phát triển cho các BXL đa nhân và các bộ tăng tốc phần cứng chuyên biệt như chip xử lý đồ hoạ. Nvidia cũng đã bổ sung các lõi xứ lý đồ hoạ độc quyền vào chip Tegra mới để tăng tốc các ứng dụng video trong khi vẫn đảm bảo được khả năng tiết kiệm điện năng. Dù là khập khiễng, song ở góc độ nào đó, việc phát triển các ứng dụng đa nhân cho TBDĐ đang gặp phải những thách thức tương tự trên máy tính cá nhân trong quá khứ. Trước khi BXL đa nhân xuất hiện, hiệu năng của ứng dụng trên máy tính cá nhân được cải thiện bằng cách “ép xung” BXL, và nhiều ứng dụng đã được viết ở chế độ “vòng tua cao" để thực thi nhiều tác vụ ngay trên 1 nhân xử lý.

Dẫu thế, việc tăng tốc độ xung nhịp lại dẫn đến sự toả nhiệt và tiêu hao điện năng quá mức, và các hãng sản xuất chip như Intel cũng đã áp dụng 1 kỹ thuật mới trong việc bổ sung nhân xử lý nhằm cải thiện hiệu năng. Các nhà phát triển ứng dụng đã đối mặt với thách thức viết lại các ứng dụng để khai thác nhiều nhân xử lý nhằm “cân đối” hiệu năng của các ứng dụng. Tuy nhiên với TBDĐ, sự tiêu tốn điện năng quan trọng nhiều hơn hiệu năng của ứng dụng, theo Gwennap. “Phần mềm rất quan trọng trong việc kiểm soát sự tiêu thụ điện năng… Người dùng có thể nói rằng BXL của tôi tốt hay BXL của tôi không tốt, tuy nhiên những gì ứng dụng làm với BXL mới là sự khác biệt lớn", Gwennap nhấn mạnh.

Nhìn chung, cùng với sự phát triển của công nghệ và đòi hỏi ngày càng cao của người dùng, TBDĐ nói riêng và thiết bị nói chung đã và đang chờ đợi những giải pháp phần cứng đa nhân mới để từ đó cung cấp những tính năng hiệu quả và mạnh mẽ hơn.
Nguồn: Techworld
More about

Siêu zoom FZ100 quay video Full HD

Người đăng: vjnhhoa

Chiếc máy ảnh siêu zoom mới nhất của Panasonic, Lumix DMC-FZ100 đã có mặt tại Việt Nam với giá bán tham khảo khoảng 9,8 triệu đồng.

Lumix DMC-FZ100 có ống kính zoom quang 24x, vi xử lý hình ảnh tân tiến Venus Engine FHD và cảm biến ảnh độ phân giải 14,1 Megapixel.
Hệ thống phím điều chỉnh phía sau máy.
Màn hình LCD kích thước 3 inch độ phân giải 460 nghìn điểm ảnh và có thể lật xoay.
Bánh xe chế độ với khá nhiều chế độ chụp cho người dùng lựa chọn.
FZ100 có ống kính zoom quang tới 24x.
Đèn flash của máy.
Mặt dưới model này.
FZ100 hỗ trợ cổng kết nối HDMI.
Pin theo máy và thẻ nhớ SD để lưu trữ hình ảnh.
Giao diện chụp hình.
Giao diện menu điều khiển.

Tuấn Hưng

More about