Cách thêm nền trời xanh vào ảnh chụp

Người đăng: vjnhhoa on Thứ Năm, 6 tháng 1, 2011

Có lẽ bạn đã từng nhận thấy bầu trời xanh trên các bức ảnh do chính tay mình chụp thường nhợt nhạt hay thậm chí biến đi đâu mất. Đó không hẳn là lỗi của bạn cũng như của máy ảnh.


Trong một ảnh chụp điển hình, thành phần quan trọng nhất trong cảnh chụp là hình ảnh cận cảnh (đối tượng gần), do đó hệ thống đo sáng tự động của máy ảnh cố gắng đảm bảo sao cho đối tượng cận cảnh luôn nhìn được rõ nhất. Thông thường, bầu trời sáng hơn rất nhiều so với đối tượng cần chụp nên bị làm cho mờ và mất màu.

Cách giải quyết vấn đề này thường được nhiều người áp dụng là “tăng cường” bầu trời thông qua việc sử dụng phần mềm chỉnh sửa ảnh.

Tìm một ảnh chụp có bầu trời xanh nhạt và mở ảnh này trong tiện ích Adobe Photoshop Elements (find.pcworld.com/ 60665). Chọn bầu trời bằng cách sử dụng công cụ Magic Ward. Trong Options Palette ở phía trên màn hình, thiết lập giá trị mục Tolerance là 30, rồi nhấn chuột chọn Add to selection. Tiếp đến, nhấn chuột chọn vào các điểm ở giữa bầu trời sao cho các dấu hiệu lựa chọn xuất hiện, bạn thực hiện thao tác này vài lần để chọn hết toàn bộ bầu trời. Lưu ý, không nhấn vào các phần không liên quan đến bầu trời trên bức hình. Sau đó, bạn chép bầu trời đã được chọn vào bộ nhớ (clipboard) bằng cách chọn Edit.Copy từ trình đơn.

Tiếp theo, chọn Edit.Paste, và một bản sao thứ hai của bầu trời sẽ xuất hiện trong cửa sổ Layers Palette. Bạn đã sẵn sàng để thử hiệu ứng “multiply”. Trong Layers Palette, bạn thiết lập Blend Mode thành Multiply.

Màu sắc trong bầu trời của bạn sẽ đậm hơn. Nếu chưa thỏa mãn yêu cầu thay đổi của mình, đừng lo bởi đây là nơi bạn thể hiện cảm nhận nghệ thuật của mình: vì bầu trời đã được sao y vào clipboard nên bạn có thể tiếp tục dán các lớp mới (bầu trời) vào bức hình cho đến khi đạt độ đậm và màu sắc mà mình mong muốn. Nếu bầu trời trở nên quá tối, bạn có thể dùng công cụ Opacity Slider để giảm bớt hiệu ứng.

Minh Cường
PC World
More about

Truy cập tập tin trực tuyến bằng FTP của Windows

Người đăng: vjnhhoa

Nếu có một tài khoản với một nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP), nhiều khả năng bạn có được một không gian lưu trữ tập tin và web trên mạng. Ví dụ, hãng Comcast cấp cho mỗi thuê bao một kho lưu trữ tập tin 25MB thông qua tính năng Personal Web Pages (PWP). Mặc dù có tên như vậy, PWP là một máy chủ FTP (File Transfer Protocol) cho phép bạn có thể tải lên và tải xuống các tập tin đến và đi khỏi góc nhỏ của bạn trong server Comcast. Thực hiện tải xuống rất dễ: chỉ cần gõ đầy đủ URL của tập tin đã tải lên vào trong thanh địa chỉ của Windows Explorer hoặc của một trình duyệt web bất kỳ, và kết nối này sẽ khởi động (sau khi đã hỏi tên người dùng và mật khẩu, nếu thư mục bạn dùng là loại được bảo vệ bằng mật khẩu).

Tuy nhiên, việc tải lên các tập tin lại là chuyện khác. Hầu hết các chương trình thiết kế web đều bao gồm phần mềm FTP client để tải toàn bộ các trang web của bạn lên server. Tuy nhiên, đôi lúc bạn chỉ muốn tải lên một tập tin riêng lẻ cho nhanh chóng. Windows đã cung cấp một chương trình FTP client dạng dòng lệnh trong hệ điều hành từ Windows 95, và trình ứng dụng này tương đối dễ sử dụng một khi đã biết cách. Chọn Start.Run (trong Vista chỉ chọn Start) rồi gõ cmd.exe để mở cửa sổ dòng lệnh. Đến đây bạn gõ ftp để khởi chạy dòng nhắc lệnh riêng của chương trình FTP. Để xem bảng danh sách các lệnh có sẵn, nhập dấu ? vào (xem hình). Để bắt đầu việc tải lên, bạn nối với server FTP bằng cách sử dụng lệnh open server, trong đó server là URL của máy chủ FTP. Ví dụ, lệnh để nối với server của Comcast là open upload.comcast.net. Sau đó server này sẽ nhắc bạn nhập tên người dùng và mật khẩu. Để xem bảng danh sách tất cả tập tin và folder đã được lưu trên server, bạn chỉ cần nhập “Ls” vào. Trước khi cho phép bắt đầu tải lên, chương trình FTP cần biết các tập tin mà bạn sẽ truyền là tập tin văn bản (chẳng hạn .txt hoặc HTML) hay tập tin mã nhị phân (mọi loại tập tin khác). Nếu áp dụng thiết lập sai cho một tập tin, bạn sẽ làm cho nó trở nên không đọc được. Để cài FTP vào chế độ truyền văn bản, bạn nhập ascii vào; còn đối với tập tin nhị phân, gõ binary. Muốn khởi động truyền tập tin, bạn nhập lệnh send vào. Chương trình FTP sẽ nhắc bạn cung cấp tên tập tin tại máy; gõ hay dán nó vào (nhớ đóng nó lại trong dấu nháy nếu có chứa các khoảng trống), rồi nhấn . Để dễ thực hiện hơn, bạn chuyển dấu nhắc lệnh này vào thư mục có chứa tập tin định tải lên trước khi phát động chương trình FTP. Với cách này, bạn chỉ cần gõ tên tập tin, không cần toàn bộ đường dẫn. Tiếp theo, nhập tên tập tin, và nhấn một lần nữa. Kết thúc công việc bằng cách gõ close (để ngắt khỏi server) và sau đó gõ quit (để đóng chương trình FTP).

Bùi Xuân Toại
PC World
More about

Tự ráp máy tính giải trí đa phương tiện

Người đăng: vjnhhoa

Máy tính của bạn sẵn sàng trở thành “ngôi sao” trong ngôi nhà số? Bạn muốn tậu chiếc máy tính giải trí đa phương tiện (media center PC) để thay các đầu đĩa, âm ly và dàn loa cồng kềnh trong phòng khách nhưng chưa biết bắt đầu như thế nào, chọn linh kiện phần cứng sao cho phù hợp. Mời bạn đọc tiếp tục cùng chúng tôi “đi chợ” với tiêu chí cấu hình mạnh, chi phí hợp lý (tuy nhiên bạn phải chịu chi khoảng 2.000USD nếu muốn “thử”).


Thùng máy (Case)

Khác với các bộ máy tính dành cho game thủ và người dùng phổ thông đã “ráp” trước đây, chúng ta sẽ “khởi đầu” với thùng máy. Đây là lựa chọn quan trọng để quyết định các phần cứng khác cho phù hợp. Ngoài các yếu tố cần lưu ý khi chọn lựa thùng máy (tham khảo bài viết “Nguồn + Thùng máy, ID: A0710_16). Bạn nên chọn loại có thiết kế gọn, đẹp để hài hòa, “xứng đôi vừa lứa” khi đặt chúng bên các thiết bị giải trí khác như dàn máy Hi-Fi, đầu DVD, âm ly; thậm chí có thể chọn hàng “độc” để gây ấn tượng, chẳng hạn như Antec Fusion Black (http://www.antec.com/Detail.bok?no=550) với remote control, màn hình LCD hiển thị thông tin, nút điều chỉnh volume trực tiếp trên thùng máy. Hạn chế của Antec Fusion Black chỉ hỗ trợ BMC chuẩn micro-ATX và gắn được 1 ổ đĩa quang.

Bộ nguồn (Power Supply)

Trước khi chọn mua, bạn phải tính tổng công suất tiêu thụ của tất cả phần cứng (dựa vào thông số kỹ thuật tương ứng) và hiệu năng của bộ nguồn. Một cách tính đơn giản hơn, sử dụng thông tin sẵn trên Internet. Chẳng hạn tại website http://www.extreme.outervision.com/index.jsp, bạn chỉ việc chọn cấu hình phần cứng, website sẽ tự động tính toán công suất tương ứng và cho bạn lời khuyên hữu ích, nên chọn BN nào phù hợp. Với cấu hình trong bài viết này, chúng ta sẽ chọn bộ nguồn Cooler Master Real Power Pro 550W, hiệu năng đạt trên 80%, hỗ trợ Active PFC có khả năng khử nhiễu, ổn dòng, giúp phần cứng hoạt động ổn định, kéo dài tuổi thọ.

Bo mạch chủ (Mainboard)

Các nhà sản xuất (NSX) bo mạch chủ vẫn có những sản phẩm dành riêng cho dòng máy tính giải trí đa phương tiện, chẳng hạn như GA-8IBGNBX-RH, GA-8I945EF-RH của Gigabyte hoặc “lên” sẵn những cấu hình như DAV Center A33 của Asus, H971 của Gigabyte... Tương tự thùng máy, BMC dành cho dòng giải trí đa phương tiện cũng không có nhiều, chúng ta “tạm” hài lòng với BMC ASUS P5E-VM HDMI chipset Intel G35/ICH9R (cầu bắc/cầu nam), đồ họa tích hợp GMA X3500 hỗ trợ giao tiếp HDMI, độ phân giải 1920x1200 ở tần số 60Hz (tương đương khả năng hỗ trợ của màn hình LCD 24" hiện nay).

Bộ xử lý (CPU)

Các BXL 4 nhân Intel Core 2 Quad, Core 2 Extreme hoặc Phenome X4 là những lựa chọn hấp dẫn. Tuy nhiên BXL 4 nhân vẫn chưa có “đất dụng võ” do các ứng dụng audio, video, game hiện không tận dụng hết khả năng của 4 nhân. Với tiêu chí “mạnh mẽ, tiết kiệm”, bạn có thể hài lòng BXL Intel Core 2 Duo E7200 (2,53GHz) có FSB 1066MHz, 3MB cache L2. E7200 được sản xuất theo công nghệ mới 45nm, tiết kiệm điện năng và ít tỏa nhiệt hơn các BXL 65nm.

Quạt tản nhiệt BXL (CPU Cooler)

Máy tính để bàn thông thường có thể gây ồn đến 60 dBA; mức ồn mà chỉ ít người có thể chấp nhận được khi đặt trong phòng khách. Tiếng ồn không phải là vấn đề lớn của máy tính chơi game hoặc văn phòng, nhưng với máy tính giải trí đa phương tiện, bạn cần lưu ý vấn đề này nếu không muốn “mất điểm” với bạn bè. Thùng máy Antec Fusion Black được thiết kế nhằm giảm thiểu tiếng ồn phát ra, giúp hệ thống hoạt động trong trạng thái gần như im lặng. Ngoài ra, bạn nên thay quạt làm mát BXL loại tốt hơn để góp phần hạn chế tiếng ồn đến mức tối đa. HyperTX (ID: A0711_64) là lựa chọn thích hợp trong trường hợp này.

Bộ nhớ (RAM)

Bộ nhớ không phải là phần cứng quan trọng trong cấu hình này. Bạn có thể chọn dòng phổ thông nếu muốn “tiết kiệm” hoặc dòng RAM cao cấp của những thương hiệu nổi tiếng như Apacer, Corsair, Crucial, Kingston, Super Talent... Bạn cũng không nên chọn RAM DDR3 vì giá của chúng vẫn còn cao và chưa có sự khác biệt hiệu năng so với RAM DDR2. ASUS P5E-VM HDMI có 4 khe gắn RAM DDR2 (800/667MHz, tối đa 8GB). Như vậy, cặp Corsair XMS2 TWIN2X2048-6400C4 (2x1GB) có thể là đại diện tiêu biểu.

Card đồ họa (Graphic Card)

Không đòi hỏi cao như card đồ họa cho game thủ. Đồ họa tích hợp GMA X3500 trên BMC ASUS P5E-VM HDMI đủ sức trình diễn những bộ phim độ nét cao (HD), chất lượng ở mức cao nhất (full HD). GMA X3500 chia sẻ bộ nhớ tối đa 384MB, hỗ trợ DirectX 10, OpenGL 2.0 và Shader Model 4.0. Các ngõ giao tiếp hỗ trợ gồm HDMI, S-Video, DVI và VGA analog (tham khảo thêm thông tin tại http://download.intel.com/products/graphics/intel_graphics_guide.pdf). Ngoài ra, việc sử dụng đồ họa tích hợp giúp tiết kiệm điện năng, ít tỏa nhiệt so với card đồ họa rời.

Ổ cứng (Hard DRIVE)

Ổ cứng dung lượng 500GB sẽ nhanh chóng bị “lấp” đầy với khoảng 22 bộ phim HD (trung bình 1 phim HD chiếm khoảng 21GB). Như vậy, ngoài việc trang bị ổ cứng gắn trong dung lượng lớn, chẳng hạn như Seagate Baracuda ST3500320AS (500GB, SATA II), Western Digital Caviar WD10EACS (1TB, SATA II), bạn nên chọn thiết bị lưu trữ gắn ngoài để tiện cho việc lưu trữ phim HD. Tham khảo thêm các thiết bị lưu trữ gắn ngoài trong bài viết ID: A0711_40.

Ổ quang (Optical Disc)

Chúng ta không có nhiều lựa chọn do thùng máy Antec Fusion Black chỉ gắn được 1 ổ đĩa quang. Cuộc chiến giành vị trí định dạng DVD giữa Blu-ray và HD DVD đã đến hồi kết khi nhiều studio, công ty điện tử lớn hỗ trợ Blu-ray (ID: A0803_18). Bạn có thể chọn ổ Blu-ray để xem phim, tuy giá của chúng vẫn còn cao. Vấn đề chính vẫn là lựa chọn giữa các nhãn hiệu. Với nhãn hiệu tên tuổi, bạn có được tốc độ “thực” hơn, đọc/ghi đĩa ít bị lỗi hơn và chế độ hậu mãi tốt hơn. Nếu không thích mạo hiểm trong cuộc chiến Blu-ray và HD DVD, thì với giá khoảng 45USD không quá khó để chọn ổ ghi DVD (ổ có công nghệ LightScribe hỗ trợ ghi nhãn đĩa có thể đắt hơn một chút).

Màn hình (Monitor)

Bạn cần chọn màn hình hỗ trợ độ phân giải 1920x1200; đây là độ phân giải yêu cầu để xem phim HD ở mức cao nhất. Đơn giản hơn, bạn có thể chọn những màn hình với dòng chữ HD Ready 1080p hoặc 1080i, chẳng hạn như Dell 2407WFP, ViewSonic VX2435WM, Dell 2707WFP, Samsung SyncMaster 275T.

Loa (Speaker)

Không kém cạnh màn hình, loa là thành phần cần được đầu tư khá nhiều. Logitech Z-5450 Digital của Logitech, thừa hưởng những tính chất đặc trưng của sản phẩm loa Logitech và có thêm một số chức năng đáng giá. Hỗ trợ nhiều chuẩn âm thanh vòm: THX, DTS, Dolby Digital và có hỗ trợ chuẩn giả lập âm thanh vòm cho nguồn stereo là Dolby Pro Logic II (phim và nhạc). Đây cũng là một trong số ít bộ loa hiếm hoi trên thị trường có ngõ vào số (phù hợp với âm thanh tích hợp với Intel High Definition Audio của BMC).

Chuột, bàn phím (Mouse, Keyboard)

Bạn muốn “tua” nhanh đoạn phim hoặc nghe lại bài hát yêu thích nhưng “ngại” di chuyển. Logitech cordless MX 3200 laser, bộ bàn phím & chuột không “đuôi” là lựa chọn thích hợp, giúp bạn linh hoạt hơn trong việc điều khiển máy tính.

Ghi chú

- Các đĩa phim HD thương mại được mã hóa bằng giao thức mới AACS (Advanced Access Content System) gặp khó khăn với cơ chế bảo mật HDCP (High Definition Content Protection - giao thức bảo mật phần cứng được nhúng trong firmware của thiết bị). Các phần cứng trong máy tính như ổ Blu-ray, card đồ họa, màn hình đều phải được chứng nhận HDCP thì mới xem được nội dung được bảo mật ở đúng độ phân giải thực của phim thông qua kết nối số DVI hoặc HDMI.

- Cấu hình trên chỉ đủ để bạn thưởng thức các bộ phim HD ở mức chất lượng cao nhất trên máy tính. Để máy tính trở trở thành “ngôi sao” trong ngôi nhà số, bạn có thể gắn thêm một số phần cứng khác tùy nhu cầu cá nhân. Chẳng hạn như Pinnacle PCTV Hybrid Pro, bộ đọc thẻ “tất cả trong 1”, card mạng không dây và cả chi phí bản quyền HĐH Windows XP Media Center Edition hoặc Windows Vista Home Premium.

- Trên thực tế, phần cứng của máy tính giải trí đa phương tiện khá hiếm hàng và không có nhiều lựa chọn. Bạn phải chịu khó “đổ mồ hôi” để có được những phần cứng vừa ý.

Đông Quân
Theo pcword
More about

Thuần phục tính năng User Account Control

Người đăng: vjnhhoa

Có thể khẳng định, tính năng User Account Contol (UAC) của Windows Vista là điều luôn gây phiền phức cho nhiều người dùng, tuy nhiên nếu tắt đi tính năng này thì hệ thống của bạn sẽ dễ bị tổn thương trước những mối đe doạ trực tuyến. Rất may, bạn có thể điều chỉnh thông qua công cụ Group Policy Object Editor để vô hiệu hóa phần lớn tác dụng của tính năng này mà không cần phải tắt hẳn nó. Cách thực hiện như sau:


Nhấn nút Start, gõ vào lệnh gpedit.msc và nhấn , sau đó nhấn chuột qua toàn bộ các nhắc nhở UAC. Trong khung bên trái, bạn tìm mục Local Computer Policy\Computer Configuration\Windows Settings\Security Settings\Local Polices\Security Options. Bây giờ, với Security Options đã chọn trong khung bên trái, bạn tìm mục User Account Control Options ở khung bên phải.

Để duy trì lợi ích của UAC, bạn giữ nguyên tình trạng đã mở nhưng thiết lập tính năng sao cho đừng thực hiện nhắc nhở. Nhấn đúp chuột vào mục User Account Control: Behavior of the elevation prompt for administrators in Admin Approval Mode. Chọn Elevate without prompting, và nhấn OK (xem hình). Một thông báo sẽ hiện ra cho biết UAC không hoạt động; bỏ qua thông báo này.

Thay đổi mức tương tác của tính năng UAC bằng cách điều chỉnh các thiết lập UAC trong công cụ Group Policy Object Editor.
Bạn cũng có thể hoàn toàn loại bỏ các nhắc nhở của UAC. Như vậy sẽ không được an toàn như khi sử dụng các cài đặt mặc định, nhưng người dùng sẽ cảm thấy dễ chịu hơn.

Đáng tiếc, Vista phiên bản Home Premium không cung cấp Group Policy Object Editor. Để thực hiện thay đổi trong phiên bản này, bạn sao lưu Registry trong hệ thống của mình bằng cách thực hiện theo các hướng dẫn được trình bày ở địa chỉ find.pcworld.com/60415. Sau đó nhấn chuột vào nút Start, gõ vào lệnh regedit, rồi nhấn . Trong khung bên trái, chọn HKEY_LOCAL_MACHINE\ SOFTWARE\Microsoft\Windows\Current Version\Policies\ System. Trong khung bên phải, nhấn đúp chuột lên mục Consent Prompt Behavior Admin, đặt giá trị 0 cho mục Value rồi nhấn OK.

Bùi Xuân Toại
PC World Mỹ 6/2008
More about

Cách khắc phục lỗi BSoD của Windows

Người đăng: vjnhhoa

Có thể xem BSoD là cơ chế "tự phòng vệ" của Windows khi hệ thống gặp lỗi. Một khi lỗi xuất hiện, bạn thường không có nhiều lựa chọn trừ việc khởi động lại máy tính bằng nút reset của thùng máy. Nếu may mắn, bạn sẽ tiếp tục công việc với các bản sao lưu mà các ứng dụng tự động thực hiện hoặc làm lại từ đầu nếu "quên" sao lưu. Tuy nhiên khi lỗi xuất hiện thường xuyên, bạn cần tìm hiểu nguyên nhân và cách khắc phục từ những thông tin trên màn hình BSoD nếu không muốn ảnh hưởng đến công việc.

Ghi nhận thông tin lỗi

Thật vậy, màn hình thông báo lỗi BSoD có một số thông tin hữu ích (dù không nhiều), giúp bạn giải quyết vấn đề. Trước khi khởi động lại máy tính, hãy ghi lại những thông tin sau:
- Mô tả lỗi: ghi lại thông tin mô tả lỗi bắt đầu từ "A problem has been detected..." và "If this is the first time...".
- Thông tin kỹ thuật: ghi lại tất cả những thông tin bên dưới đề mục "Technical information".
Nếu máy tính tự khởi động lại quá nhanh trước khi bạn kịp ghi nhận những thông tin cần thiết, hãy thử tắt tính năng tự khởi động lại của Windows khi gặp lỗi. Thực hiện như sau:
- Khởi động máy tính ở chế độ Safe Mode (nhấn phím F8 ngay sau quá trình khởi động BIOS và chọn Safe Mode từ trình đơn).
- Nhấn phải chuột lên biểu tượng My Computer, chọn Properties, nhấn vào tab Advanced, chọn Settings bên dưới mục Startup and Recovery.
- Bỏ tùy chọn đánh dấu mục Automatically restart và nhấn OK để kết thúc (hình 1).


Xử lý lỗi

Sau khi khởi động lại máy tính, truy cập website hỗ trợ kỹ thuật của Microsoft (http://support.microsoft.com) với từ khóa là những thông tin đã ghi nhận; đặc biệt là dòng chữ in hoa để tìm hướng dẫn xử lý lỗi, chẳng hạn với lỗi STOP Error 0x0000009F DRIVER_POWER_STATE_FAILURE trong Windows XP. Microsoft mô tả chi tiết các nguyên nhân gây lỗi và cách khắc phục tại support.microsoft.com/kb/315249/en-us. Ngoài ra, bạn có thể tìm kiếm sự trợ giúp từ các website, diễn đàn kỹ thuật khác như www.updatexp.com/stop-messages.html.

Nếu thông tin tìm kiếm trên Internet không giúp được bạn, thực hiện các bước sau để kiểm tra.
Trước tiên, hãy xem xét những thay đổi của máy tính trước khi lỗi xuất hiện; như việc nâng cấp phần cứng, cập nhật trình điều khiển phần cứng (driver), cài đặt phần mềm mới, v.v...

- Kiểm tra driver. Driver không tương thích thường dễ làm Windows trục trặc. Nếu thường xuyên cập nhật driver, hãy thử khôi phục lại phiên bản cũ bằng cách nhấn phải chuột trên My Computer, chọn Properties. Trong tab Hardware, chọn mục Device Manager. Nhấn phải chuột trên phần cứng cần khôi phục driver, chọn Properties. Chọn mục Roll Back Driver trong tab Driver để khôi phục (hình 2).


- Kiểm tra phần cứng. RAM lỗi cũng là nguyên nhân xuất hiện BSoD. Để kiểm tra RAM, sử dụng một trong những tiện ích như Memtest86+, DocMemory, GoldMemory. Có thể tải về tiện ích miễn phí Memtest86+ tại website memtest.org.

- Phần cứng quá nóng (quá nhiệt) cũng có thể là thủ phạm. Kiểm tra các thiết bị tản nhiệt, quạt làm mát của phần cứng. Với máy tính để bàn, mở nắp thùng máy, làm vệ sinh các thiết bị tản nhiệt, quạt làm mát, nhất là của BXL và card đồ họa. Ngoài ra, bạn cũng nên kiểm tra các cáp nguồn và cáp dữ liệu đã gắn chặt và đúng cách chưa.

- Cuối cùng, hãy thử kiểm tra Registry của Windows nếu đã loại trừ các nguyên nhân bên trên. ử dụng tiện ích dọn dẹp Registry miễn phí như EasyCleaner (find.pcworld.com/60777). Lưu ý: "cẩn tắc vô áy náy", sao lưu Registry trước khi "đụng" đến chúng. Tham khảo cách sao lưu Registry trong bài viết "Chăm sóc và bảo dưỡng Windows Registry", ID: A0502_90.

Trung Doãn
Theo pcworld
More about

Khắc phục máy tính không nhận biết ổ đĩa gắn ngoài

Người đăng: vjnhhoa

Trong nhiều trường hợp, Windows có thể không nhận diện được một ổ đĩa gắn ngoài bởi vài nguyên nhân. Trước hết, bạn có thể dò ra nguyên nhân của trục trặc với chính ổ đĩa này hay với cổng kết nối USB đang sử dụng.

Hãy thử cắm bút nhớ hay đĩa cứng gắn ngoài đang gặp trục trặc vào một cổng USB khác – tốt nhất là cổng ở mặt trước của thùng máy. Tiếp theo, thử chạy ổ đĩa này trên máy tính khác, hoặc thử chạy một ổ đĩa khác trên máy tính cũ. Những phép thử cơ bản này sẽ cho bạn biết nguyên nhân: do bút nhớ (bị hỏng) hay do cổng USB hoặc một lý do nào khác.
Nếu đó là một sự cố thật sự, bạn thử hủy cài đặt rồi cài đặt lại trình điều khiểu thiết bị (driver) của ổ đĩa đó. Driver của các thiết bị lưu trữ USB rất dễ cài đặt bởi vì chúng được tích hợp sẵn ngay trong các ổ đĩa đó. Sau đây là cách thực hiện:


1. Cắm ổ đĩa USB vào máy tính.

2. Trong XP, chọn Start.Programs, nhấn phải chuột lên biểu tượng My Computer, rồi chọn Properties. Chọn thẻ Hardware, rối nhấn tiếp thẻ Device Manager. Trong Vista, bạn nhấn chọn Start, gõ vào lệnh Device Manager, rối nhấn .

3. Tìm ổ đĩa này bên dưới mục Disk Drives.

4. Nhấn phải chuột lên ổ đĩa đó và chọn Uninstall. Xác nhận bằng cách nhấn OK.

5. Bước cuối cùng, rút ổ đĩa USB ra, sau đó cắm lại vào máy tính. Driver sẽ tự động được cài đặt.

Vista có vài trục trặc riêng liên quan đến ổ đĩa USB, chẳng hạn HĐH không thể tiếp tục giữ kết nối với ổ đĩa USB sau chế độ chờ (sleep) hay ngủ đông (hibernate). Microsoft đã tung ra bản sửa lỗi KB941600 cho trục trặc này vào tháng 10 năm ngoái. Tuy nhiên, ngay cả khi đã thiết lập cho Windows tự động cập nhật các bản nâng cấp thì bạn vẫn phải thủ công tải về bản sửa lỗi này.

Ứng dụng khởi động chậm

Vài ứng dụng thường khởi chạy rất lâu, tại sao?

Vài chương trình – chẳng hạn như Photoshop Elements của Adobe – khởi chạy "như rùa bò” và bạn không thể làm được bất cứ điều gì ngoài việc liên quan đến chương trình đó. Hãy hỏi bạn bè, hay lên các diễn đàn mạng để xác định xem ứng dụng của bạn có nằm trong số đó hay không. Nếu đúng như vậy, cách giải quyết khá đơn giản: bạn thay thế ứng dụng đó bằng một ứng dụng khác nhanh hơn hoặc bạn buộc phải học cách sống chung với nó. Nhưng nếu bạn phát hiện ra mình là người duy nhất gặp tình trạng này, thì việc gỡ bỏ cài đặt rồi cài đặt lại ứng dụng kể trên sẽ có thể là giải pháp hữu ích. Tuy nhiên, chỉ gỡ bỏ cài đặt rồi cài đặt lại có thể chưa đủ, vì các thủ tục gỡ bỏ cài đặt đi kèm với hầu hết các ứng dụng rất hiếm khi loại bỏ hết mọi thứ mà chúng yêu cầu cũng như cài đặt vào hệ điều hành.

Để loại bỏ hoàn toàn một trình ứng dụng, bạn phải gỡ bỏ cài đặt nó, xóa sạch các tập tin còn sót lại, sau đó dọn dẹp Registry. Chương trình Revo Uninstaller (find.pcworld.com/60617) thực hiện đúng như vậy. Tuy không đạt được mọi thứ, ngay cả trong chế độ Advanced, nhưng tiện ích này xóa sạch những thứ quan trọng.

Nếu việc gỡ bỏ cài đặt và sau đó cài đặt lại vẫn không giúp ích được gì, bạn cần tìm cách giải quyết với chương trình khác – thường là loại chương trình có khả năng tự động khởi chạy cùng lúc với quá trình Windows khởi động. Bạn chọn Start.Run, gõ vào lệnh msconfig, nhấn , và nhấn chuột thẻ Startup để xem danh sách các chương trình tự động chạy như vậy. Tìm thứ mà bạn không cần, và bỏ chọn chúng. Sau đó khởi động lại để xem thao tác này có giải quyết được trục trặc không.

Ngoài ra, bạn cũng có thể thực hiện theo một biện pháp cực đoan hơn. Đầu tiên, hãy tạo một điểm khôi phục hệ thống. Trong XP, bạn chọn Start.All Programs.Accessories.System Tools.System Restore; nhấn chuột chọn Create a restore point, rồi làm theo hướng dẫn. Trong Vista, bạn nhấn chuột chọn Start, gõ vào lệnh sysdm.cpl, rồi nhấn . Nhấn chuột chọn thẻ System Protection, rồi nhấn tiếp Create. Bạn chuyển đến thẻ Startup của msconfig, rồi bỏ chọn mọi thứ. Khởi động lại máy và thử chạy lại chương trình.

Nếu những hiệu chỉnh này khắc phục được trục trặc, bạn quay lại với msconfig và đánh dấu chọn lại một nửa các chương trình có khả năng tự khởi động. Khởi động lại máy và thử lại lần nữa.

Tiếp tục công việc cho đến khi chỉ còn lại một chương trình, và đó chính là thủ phạm gây ra trục trặc.

Minh Xuân

Theo PC World

More about

Cách khắc phục các sự cố Windows từ xa

Người đăng: vjnhhoa

Công cụ truy cập qua Internet của Microsoft cho phép nhanh chóng khắc phục các sự cố Windows từ xa.

Dù là dân CNTT chuyên nghiệp hay người dùng máy tính “có số” thì trở ngại lớn nhất khi khắc phục một sự cố máy tính lại đơn giản chỉ là kết nối đến máy tính đang cần sự trợ giúp. May mắn, Microsoft cung cấp vài công cụ trên nền tảng Internet khá tốt có thể giúp đơn giản hóa việc kết nối vào hệ thống gặp sự cố.

Với các công cụ hỗ trợ từ xa (Remote Assistance), kết nối từ xa (Remote Desktop Connection) và hướng dẫn chi tiết (Problem Steps Recorder), bạn có thể điều khiển từ xa một máy tính như thể bạn đang ngồi trước chính máy tính đó. Các công cụ này không những giúp bạn tiết kiệm thời gian di chuyển mà còn giúp tránh được vài tình huống nhất định, chẳng hạn người cần được giúp đỡ hầu như không thể sử dụng các trình đơn hoặc không thể xác định được chính xác các thiết lập cũng như thông báo lỗi.

Thay vì phải hướng dẫn một người “mù tịt” mở Control Panel hay các tính năng sau đó, với 3 công cụ kể trên, bạn có thể tự điều khiển và khắc phục các vấn đề nhanh chóng.

Hỗ trợ từ xa

A1002 101a Cách khắc phục các sự cố Windows từ xa

Với Remote Assistance (RA), bạn có thể cung cấp sự hỗ trợ kỹ thuật an toàn và bảo mật cho các máy tính ở xa, bất kể đó là máy tính ở văn phòng hay gia đình.

Không giống như các công cụ truy cập từ xa khác, RA không mở cổng (port) cho bất kỳ người dùng trên Internet nào bên ngoài truy cập vào. Để sử dụng, bạn phải bắt đầu với yêu cầu của RA và chấp thuận kết nối đến.

RA xuất hiện lần đầu tiên vào năm 2001 trong HĐH Windows XP, sau đó các tính năng của công cụ này được cải tiến khá nhiều ở các phiên bản tiếp theo, từ XP đến Vista rồi đến 7. Trong Windows 7, nhấn chuột vào Help and Support, chọn More Support Options ở phía cuối cửa sổ và chọn Remote Assistance. Để tìm tiện ích này trong các phiên bản Windows trước, nhấn vào Help and Support và sử dụng chức năng tìm kiếm với khóa “Remote Assistance”.

Sau khi đã khởi chạy RA, tiện ích cho phép bạn chọn cách gửi yêu cầu trợ giúp. Thứ tự và định dạng của yêu cầu được thay đổi theo thời gian (ứng với các phiên bản có hỗ trợ RA). Trong Windows XP, bạn chỉ có thể chọn cách gửi tin nhắn tức thời (IM) hay e-mail. Còn trong Windows 7, bạn có thể gửi email, lưu lời mời vào một tập tin rồi sau đó gửi dưới dạng tập tin đính kèm trong IM, hay sử dụng Easy Connect để thiết lập liên kết giữa 2 hệ thống Windows 7 và sau đó có thể kết nối qua RA ngay lập tức.

A1002 102a Cách khắc phục các sự cố Windows từ xa

Khi lựa chọn phương pháp gửi yêu cầu bằng email thì ứng dụng email mặc định trên hệ thống sẽ được khởi chạy và tạo một email yêu cầu trợ giúp, email gồm có tập tin đính kèm để cung cấp thông tin cho người nhận có thể kết nối đến máy tính cần trợ giúp. Trong Windows XP và Vista, hệ thống yêu cầu người dùng tạo mật khẩu để cung cấp cho người trợ giúp từ xa sử dụng để kết nối tới máy tính của họ. Trong khi đó Windows 7 sẽ tự tạo mật khẩu riêng (có vẻ an toàn hơn) và cung cấp mật khẩu này cho người trợ giúp khắc phục sự cố.

Sau khi nhận và mở tập tin đính kèm, người trợ giúp phải nhập mật khẩu (đã được cấp trước đó) để kết nối đến máy tính cần trợ giúp từ xa. Tại thời điểm này, bạn (người yêu cầu được trợ giúp) sẽ thấy hệ thống yêu cầu cấp phép để người trợ giúp thực hiện kết nối và cảnh báo rằng kết nối này sẽ cho phép người trợ giúp nhìn thấy mọi thứ trên màn hình máy tính của bạn.
Khi phiên kết nối RA đã được thực hiện, bạn và người trợ giúp sẽ cùng thấy một màn hình. Chức năng tán gẫu (chat) cho phép 2 người có thể trao đổi với nhau để khắc phục sự cố.

Kết nối từ xa

Nếu thỉnh thoảng cần khắc phục sự cố từ xa thì Remote Assistance là lựa chọn khá tốt. Còn nếu thường xuyên kết nối từ xa, Remote Desktop Connection (RDC) sẽ là sự lựa chọn phù hợp hơn. Tiện ích khá linh hoạt này của Windows cho phép bạn kiểm soát bất kỳ máy tính ở xa nào, đặc biệt RDC khá hữu ích cho những người quản trị hệ thống kết nối tới máy chủ hay các hệ thống quan trọng khác.

A1002 102b Cách khắc phục các sự cố Windows từ xa

Đầu tiên, để có thể kết nối tới một hệ thống từ xa bằng RDC, hệ thống này phải được cấu hình để chấp nhận những kết nối này. Trong Windows Vista hay Windows 7, bạn nhấn chuột phải lên Computer, chọn Properties, hay vào Control Panel và chọn System, sau đó chọn Remote settings. Trong Windows XP, nhấn chuột phải vào My Computer, chọn Properties và tiếp tục chọn thẻ Remote.

Trên bảng điều khiển Remote Settings, bạn có thể cấm hay cho phép các hệ thống từ xa kết nối đến máy tính. Thành viên của nhóm quản trị sẽ tự động được cấp quyền truy cập tất cả hệ thống đã kích hoạt tính năng RDC. Nếu muốn cho ai đó ngoài nhóm kết nối bằng RDC thì bạn phải thêm người này vào nhóm. Khi RDC đã được kích hoạt, tiện ích sẽ cung cấp cho bạn địa chỉ cần thiết để kết nối máy tính từ xa.

Để bắt đầu phiên kết nối RDC, vào Start.All Programs.Accessories.Remote Desktop Connection. Trong cửa sổ RDC, bạn có thể nhập địa chỉ IP, tên của máy tính muốn kết nối hay tên người dùng mà bạn đang sử dụng để thực hiện kết nối. Khi tiến trình kết nối được bắt đầu, Windows sẽ yêu cầu nhập vào tên người dùng và mật khẩu hợp lệ cho máy tính ở xa (nếu không lưu thông tin kết nối từ phiên kết nối trước trên máy tính đó).

A1002 103a Cách khắc phục các sự cố Windows từ xa

Cả Windows Server 2003 và Windows Server 2008 cho phép thực hiện nhiều kết nối qua RDC đồng thời, tuy nhiên HĐH dành cho máy tính để bàn (như XP hay Vista) chỉ cho phép thực hiện một kết nối tại một thời điểm. RDC (khác với Remote Assistance) không cho phép người cần trợ giúp thấy màn hình, tức là sau khi người trợ giúp kết nối từ xa, màn hình của bạn sẽ chuyển thành màu đen. Khi người dùng đăng nhập cục bộ trở lại hệ thống này thì phiên kết nối sẽ kết thúc, vì vậy khi sử dụng RDC để khắc phục sự cố, bạn cần tạm dừng sử dụng máy.

Hướng dẫn chi tiết

A1002 103c Cách khắc phục các sự cố Windows từ xa

Windows 7 tích hợp một công cụ mới rất hữu dụng có tên gọi Problem Steps Recorder. Tiện ích hấp dẫn này cho phép ghi lại từng bước các nguyên nhân (chụp từng màn hình – screenshot) dẫn đến hoặc tạo ra sự cố trên máy tính thành tập tin (định dạng MHTML – xem bằng IE). Sau đó, bạn có thể gửi các thông tin được ghi lại này đến bộ phận hỗ trợ kỹ thuật của hãng/nhà phân phối hay cá nhân nào đó để những người trợ giúp này có thể đánh giá chính xác những gì đã xảy ra và có thể hình dung được sự cố.

Problem Steps Recorder rất tốt cho một số trường hợp sau: Thứ nhất, trong nhiều trường hợp như hệ thống không tương thích, người dùng khó có thể xác định chính xác được trục trặc là gì và phát sinh từ đâu, do đó bộ phận hỗ trợ kỹ thuật sẽ gặp khá nhiều khó khăn. Mặc dù Remote Assistance cho phép cả người dùng và người trợ giúp (thường là nhân viên kỹ thuật) thấy màn hình làm việc và xử lý sự cố cùng lúc nhưng những nhà cung cấp dịch vụ hỗ trợ thứ 3 hiếm khi sử dụng tiện ích này. Thứ hai, bởi vì các phiên làm việc PSR có thể dễ dàng được gửi đi dưới dạng email hay tập tin đính kèm tin nhắn IM, do đó người dùng và nhân viên hỗ trợ kỹ thuật không cần phải kết nối theo thời gian thực với nhau. Bạn có thể kiểm tra lại sự cố trước khi phát sinh lỗi và chọn hướng khắc phục trực tiếp (không cần thông qua mạng Internet) và sau đó xác nhận với người dùng về giải pháp của các bộ phận hỗ trợ kỹ thuật của nhà phân phối giúp mang lại hiệu quả tốt hơn – bạn không bị áp lực phải chờ đợi và xem kết nối từ phía bên kia.

PSR có sẵn trong Control Panel hoặc trên bất kỳ trình đơn nào trong Windows. Để mở Problem Step Recoder và tạo một phiên làm việc, bạn nhấn phím trên bàn phím (hay nhấn vào Start) và nhập nội dung psr.exe vào hộp tìm kiếm (Search) và ấn Enter, sau đó một bảng điều khiển xuất hiện với một số tùy chọn để bắt đầu.

Ngoài ra, PSR còn có một tính năng khác giúp bạn không phải lưu nhiều dữ liệu khi có sự cố phát sinh. Như vậy, bạn có thể sử dụng tập tin dữ liệu này để làm tài liệu hướng dẫn chi tiết để người dùng có thể tự xử lý khi gặp lỗi tương tự.

Tất nhiên, việc kết nối tới một máy tính gặp sự cố và quan sát lỗi trực tiếp chỉ là bước khởi đầu mà bạn phải thực hiện. Tuy nhiên, nếu muốn không phải di chuyển tới lui khi điều khiển một máy tính thì 3 tiện ích kể trên sẽ giúp bạn khắc phục sự cố một cách nhanh chóng và dễ dàng hơn.

Đức Thịnh
Theo PC World

Nguồn bài viết : Cách khắc phục các sự cố Windows từ xa

More about