Apple khởi kiện Kodak vi phạm bằng sáng chế

Người đăng: vjnhhoa on Thứ Tư, 11 tháng 4, 2012

Mặc dù Kodak đã đệ đơn xin bảo hộ phá sản nhưng có vẻ như Apple đang chuẩn bị đệ đơn lên tòa án, cáo buộc Kodak vi phạm bằng sáng chế liên quan đến các công nghệ được sử dụng trong máy in, máy ảnh kĩ thuật số và khung ảnh kĩ thuật số.

Hiện tại Kodak không thể làm được gì nhiều bởi họ đang chờ đợi toà án quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp. Tuy nhiên, phía Apple cho biết tòa án đang "mở cửa" cho đơn kiện Kodak.

Apple đang chuẩn bị các tài liệu để nộp đơn khiếu nại lên Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kì (ITC) và cũng như chuẩn bị cho một vụ kiện riêng tương ứng tại Tòa án liên bang thuộc quận Manhattan, điều này có thể dẫn đến một lệnh cấm của tòa án ngăn chặn Kodak sử dụng các bằng sáng chế vi phạm.

Nếu thành công, Apple sẽ làm cho Kodak tiếp tục suy giảm nghiêm trọng về tài chính và họ cũng sẽ khó mà nhận được khoản bồi thường nào từ phía Kodak.

Kodak đã rơi vào khó khăn vào cuối năm ngoái và bắt đầu bán tài sản của mình trong một nỗ lực tiết kiệm tài chính, họ đã bị bỏ rơi về phía sau khá xa trong thị trường kĩ thuật số và bắt đầu chuyển sang hoạt động như một công ty in ấn. Mặc dù Kodak vẫn cố gằng tiếp tục sản xuất máy ảnh kĩ thuật số, nhưng cuối cùng cũng thất bại trong việc cạnh tranh với các thị trường mới nổi sau đó họ buộc phải tuyên bố ngừng sản xuất máy ảnh kĩ thuật số .

Thời điểm Kodak đệ đơn xin bảo hộ phá sản, tổng giá trị tài sản ước tính có khoảng 5,1 tỉ USD nhưng nợ tới 6,8 tỉ USD. Để đảm bảo về tài chính, hiện Kodak đang sở hữu trên 1.100 bằng sáng chế và đang dần bán đi. Các bằng sáng chế có thể có giá trị khoảng 2 đến 3 tỉ USD.

Kể từ năm 2008 thì Kodak đã thu về gần 2 tỉ USD tiền bản quyền và lệ phí cấp phép các bằng sáng chế quan trọng.

Theo Zdnet

More about

Download - Những thủ thuật đáng giá

Người đăng: vjnhhoa on Thứ Hai, 9 tháng 4, 2012

Download hay tải về tập tin (file) từ Internet là một nhu cầu không thể thiếu của "cư dân mạng". Đã xa lắm rồi cái thời dial-up là cách duy nhất giúp người ta đến với Internet mà việc lướt web cũng còn khó chứ nói chi tới tải về file dung lượng lớn. Hiện nay, download trở nên nhanh chóng hơn rất nhiều, nhờ dịch vụ Internet tốc độ cao như ADSL đã trở nên phổ biến, cùng sự trợ giúp của các phần mềm hỗ trợ download... Những thiết bị giải trí "hi-tech" như máy nghe nhạc MP3, xem phim MP4, PDA... khiến nhu cầu download nhạc, phim, phần mềm, game... tăng lên từng ngày.

PHƯƠNG PHÁP TẢI VỀ

Ta có thể chia làm hai phương pháp download: chọn từng file và chọn hàng loạt nhiều file.

Chọn từng file

Hình 1

Đó là cách mà phần lớn người duyệt web sử dụng vì chỉ cần nhấn chuột phải vào liên kết rồi chọn Save Target As. Dù vậy, cách này cũng lắm "trắc trở" như dễ mất liên kết (link), nhầm lẫn, thậm chí cho dù có thêm phần mềm hỗ trợ, bạn cũng phải tốn không ít thời gian, công sức nếu tải nhiều file và hiệu quả rất thấp khi cần tải số lượng lớn file ảnh nén (dung lượng nhỏ). Tuy nhiên khi tải file từ một số dịch vụ chia sẻ như megaupload, rapidshare, yousendit... chúng ta chỉ có thể chọn phương pháp này vì họ không cho dùng phần mềm hỗ trợ download nếu chỉ có tài khoản miễn phí (hiện có các loại phần mềm tăng tốc dành riêng cho một dịch vụ hay keygen dùng để tạo tài khoản thương mại, Hình-1, nhưng chúng dễ dàng bị nhà cung cấp dịch vụ vô hiệu hóa và đó là hành động trái phép nên tác giả xin được bỏ qua).

Hình 2

Bạn hẳn sẽ ngạc nghiên nếu biết rằng hầu hết chúng ta đều đã rất lãng phí khi sử dụng Internet Explorer (IE): sau khi nghe hết một bài hát, xem xong một file flash... rồi mới tính đến chuyện download file! Chúng ta không cần phải làm vậy, sự thực trình duyệt web có một nhiệm vụ chính là tự động tải tất cả các file cần thiết để trình diễn hoàn chỉnh trước mắt người sử dụng dưới dạng một trang web (điều này thể hiện rất rõ trong thanh Status Bar), tất nhiên trong đó có cả những file bạn cần. Hãy để ý tới công cụ chơi nhạc Windows Media, được tích hợp trong các trang nhạc trực tuyến, thường hiển thị Buffering: **% (dữ liệu đệm, Hình-2) rồi Downloading... ** % (** là số phần trăm). Đã bao giờ bạn tự hỏi file được tải về nằm ở đâu? Câu trả lời là vào thư mục C:\Documents and Settings\tên người sử dụng\Local Settings\Temporary Internet Files với Windows XP hoặc C:\Windows\ với Windows 9x (C là phân vùng cài hệ điều hành) và tất nhiên có thể lấy các file ngay từ folder này.

Hình 3

Điểm đáng nói là bạn không nhất thiết phải đợi bài hát tự chạy hết, kéo nút trượt sẽ kết thúc nhanh hơn, ngoài ra các file có thể bị xóa bất cứ lúc nào, hãy sao chép ngay khi chúng xuất hiện (nên refresh thường xuyên). Tên file gốc trong Temporary Internet Files sẽ bị thay đổi chút ít lúc bạn copy file sang thư mục khác (phần cuối có thêm [1] và nếu có dấu cách thì nó biến thành %20, hiện tượng này không xảy ra khi sử dụng các phần mềm hỗ trợ download). Chúng ta cũng có thể mở nhanh trong IE: chọn Tools\Internet Options trong tab Genenal nhấn nút Settings ở dưới dòng "Delete temporary file, history, cookies, saved passwords, and web form infomation", trong hộp thoại Temporary Internet Files and History Settings nhấn nút View Files (hoặc View Trusted Files trong IE 7) ( Hình-3 ). Tất cả các file được tự động tải về đều nằm ở đây, bạn dễ dàng tìm ra file cần dùng dựa trên phần mở rộng của các file.

Ngoài ra nếu muốn dùng cách này thường xuyên, bạn có thể thay đổi vị trí mặc định lưu file để tiện cho việc quản lý. Ta cũng nên thay đổi dung lượng tối đa của thư mục cho phù hợp vì các file nằm ở đây là các file tạm (temporary file) nên các file cũ sẽ bị xóa để nhường chỗ cho file mới khi tổng dung lượng thư mục vượt qua ngưỡng giới hạn được thiết lập. Bạn sợ tốn đĩa ư? Xin đừng lo vì mỗi khi chúng ta chạy Disk Cleanup tất cả file tạm có thể được xóa hết ( Hình-4 ). Đây là một cách làm thông dụng nên nếu muốn bảo vệ sự riêng tư thì cũng trong Internet Options bạn mở tab Advanced, đánh dấu kiểm vào ô "Empty Temporary Internet Files folder when browser is closed" ở phần Security để tự động làm trống thư mục sau khi duyệt web xong. ( Hình-5 )

Hình 4

Hình 5

Nếu có thể dùng phần mềm hỗ trợ download tất nhiên tốc độ sẽ cao hơn rất nhiều, nhưng việc đó không phải lúc nào cũng dễ dàng. Xin lấy ví dụ với các file video giới thiệu cuộc thi hoa hậu thế giới lần thứ 54-55 (2004-2005) trên website www.missworld.tv (không cần nói cũng biết, khi cuộc thi diễn ra thì số lượng người dùng trên toàn thế giới đổ dồn tải về các đoạn phim này rất lớn và các nhà quản trị thường không cho sử dụng phần mềm hỗ trợ download). Ngay liên kết tới trang web con dù sử dụng javascript, cũng không phải là vấn đề chính, khi xem phim trong Windows Media Player bạn vẫn có thể nhấn chuột phải, chọn Properties và copy liên kết ở phần Location ( Hình-6 ).

Hình 6

Nhiều người cũng áp dụng "tuyệt chiêu" thông dụng trên nhưng đành thất vọng, mặc dù trông rất giống với liên kết video bình thường http://boss.streamos.com/wmedia/twii/missworld/9167582_miss_world_2005_preview_800.wvx nhưng khi dùng link này, phần mềm hỗ trợ chỉ tải về những file nhỏ xíu có phần mở rộng .WVX. Xin đừng buồn, hãy làm cách trên một lần nữa với file bé hạt tiêu này, nó sẽ chỉ đường cho bạn đấy. Thật vậy, lần này ta mới có liên kết thực mms://gwmod10.streamos.com/wm10/74/48/7448d74769d79f7ba86319c75a7c2343-437dba1f.asf?ts=1141812305&ttl=300&cs=CBE9CBBC4195BFDDDEFE837C11E13830FE3CD0C7 .

Vâng, trong ví dụ này họ đã sử dụng file dạng WVX làm trung gian và khi có được liên kết thực trong tay, chỉ cần dùng một phần mềm download hỗ trợ giao thức MMS (Microsoft Media Server) là chỉ chốc lát bạn đã có trong tay những đoạn phim hấp dẫn này ( Hình-7 ).

Hình 7

Chức năng khám phá website (có nhiều cách gọi khác nhau: Site Explorer trong Flashget và NetTransport, Site Manager trong Internet Download Accelerator, hoặc FTP Browser trong Download Accelerator Plus và Mass Downloader...) cũng khá hữu ích. Chỉ cần nhập địa chỉ vào dòng URL (có thể cả thông tin đăng nhập nếu cần) và phần mềm sẽ tự động dò ra các file cho bạn chọn lựa ( Hình-8 ). "Thật đơn giản!", có người sẽ thốt lên như vậy, nhưng không đâu, như bạn thường thấy, những trang web ngày nay đẹp và lộng lẫy hơn xưa, để có được điều này các nhà xây dựng (website) phải sử dụng khá nhiều file flash, hình ảnh có định dạng khác nhau cũng như các liên kết dày đặc... nhưng chức năng khám phá website lại thể hiện thật khô khan dưới dạng danh sách file, liên kết, mà không phải là giao diện đồ họa trực quan với những chỉ dẫn bắt mắt thường thấy khi duyệt web.

Hình 8

Chưa kể hành động này có nhiều điểm tương đồng với việc do thám mà tin tặc vẫn thường sử dụng, nên bạn cũng đừng ngạc nhiên khi một số website từ chối tất cả các liên kết mà phần mềm yêu cầu từ tính năng này.

Chọn hàng loạt file

Phương pháp này thích hợp cho số lượng file lớn, được áp dụng với các website chuyên nghiệp và được chia làm hai kiểu:

1.Tải hàng loạt chưa chọn lọc

Với một số phần mềm hỗ trợ tăng tốc dowload như Internet Download Accelerator 5.02 (IDA5.02), Internet Download Manager 5.02 (IDM5.02) , Flashget 1.71, HiDowload 6.9 (HiD6.9)... ta có thể khai thác tính năng Batch Download (hoặc Downloads Group trong IDA5.02) để tải hàng loạt file khi chúng tuân theo một quy luật về chữ số. Phần giống nhau ở các liên kết được nhập vào dòng URL, còn các biến là nhóm ký tự do phần mềm quy ước, với 4 chương trình trên lần lượt là $, *, (*), riêng HiD6.9 không dùng ký tự đại diện mà tách riêng phần cuối của URL (cũng là đuôi của file với liên kết thông thường) ra một ô khác ( Hình-9 ). Nếu IDM5.02 và Flashget 1.71 cho phép xem trước một số liên kết được tạo ra, HiD6.9 có thể chỉnh sửa danh sách khi đang xây dựng URL thì IDA5.02 lại vượt trội nhờ khả năng tạo bước nhảy số thứ tự bằng thiết lập Step.

Hình 9

Xin lấy một ví dụ tập trung hầu hết những lỗi thường xảy ra: bạn có được liên kết sau http://www.mm52.com/game/gt4/gt4_129.jpg và nhận ra đây là file ảnh thứ 129 và có thể còn có 128 file nữa. Bạn không muốn mở từng trang web để lưu từng file một mà vẫn có được tất cả các file ảnh cùng chủ đề, giả sử phần mềm Flashget được dùng. Hãy chọn Jobs \ Add batch download trong hộp thoại Add batch job, gõ http://www.mm52.com/game/gt4/gt4_(*).jpg vào dòng URL và From (từ) 1 to (đến) 150 chẳng hạn, dựa vào đó phần mềm sẽ tạo ra các link. Nhiều người cũng sử dụng Batch Download như trên nhưng không thành công hoàn toàn. Vì sao lại thất bại? Bởi vì họ tưởng đã biết tất cả về liên kết này. Sự thực không phải vậy, vẫn còn một ẩn số cần tìm, đó là số các chữ số tối thiểu trong thứ tự được thêm vào tên file (wildcard bytes). Trong ví dụ này chứa tới 3 trường hợp có thể xảy ra với một số file còn lại vì thông số wildcard bytes có thể là 1, 2 hoặc 3. Bạn cần download "thử" một file có số thứ tự thấp hơn ở hàng chục hay hàng đơn vị: http://www.mm52.com/game/gt4/gt4_29.jpg trong trường hợp này sẽ không tải được, bạn cần thử lại lần hai: http://www.mm52.com/game/gt4/gt4_029.jpg và file gt4_029.jpg được download thành công, từ đó bạn biết chắc chắn số wildcard bytes là 3 chứ không phải là 2 như thiết lập mặc định của nhà sản xuất. Mọi chuyện vẫn chưa dừng lại ở đây, bạn có chắc là đã download tất cả chưa? Thực tế file gt4_150.jpg đã được tải về, rất có thể tồn tại file gt4_151.jpg hoặc rất nhiều tệp khác có số thư tự lớn hơn.

Hình 10

Và ta cần tải thêm chúng cho đủ, hãy chỉnh thêm " From 151 To 200 " chẳng hạn, các file sẽ được tải thêm đến gt4_164.jpg còn từ gt4_165.jpg đến gt4_200.jpg sẽ bị "đứt". Để hạn chế điều này, ta cũng có thể thiết lập 1 tới 200 ngay từ đầu nhưng thời gian download sẽ lâu hơn do phần mềm phải lần lượt tải thử những file không có thực. ( Hình-10 )

Phương pháp trên tuy có thể tải hàng loạt nhưng không phải lúc nào liên kết cũng giúp bạn tìm ra chính xác những file cần thiết, nhiều khi số thứ tự có thể lên tới hàng chục nghìn, vì vậy cách này được gọi là chưa chọn lọc.

2.Tải hàng loạt tự động chọn lọc

Các trang web chuyên cung cấp nhạc, phim, phần mềm... thường có cấu tạo gồm một số trang lớn dẫn đến rất nhiều trang nhỏ tạo thành mạng lưới. Nếu mỗi trang con khá cố định, chỉ chứa vài liên kết dành cho việc download thì các trang mẹ lại tùy biến, có đến hàng trăm liên kết. Thế nên bạn thường phải vào trang chính, mở trang con tìm liên kết tới file để download, rồi trở lại trang chính để vào trang con tiếp theo... rồi cứ thế lặp đi lặp lại, thật là một công việc nhàm chán, hơn nữa khi đang download thì trang web được nạp rất lâu, tốn nhiều thời gian, các trang con có cách trình bày gần như giống nhau nên dễ bị nhầm lẫn.

Nhằm đơn giản hóa việc xây dựng, cũng như giấu đường dẫn thực tới máy chủ, các website chuyên nghiệp thường sử dụng PHP để thực hiện các liên kết. Chính vì vậy việc tìm đường dẫn bằng cách xem mã nguồn (View Source) của trang web đã trở nên "lạc hậu" với đa số website. Tưởng chừng điều đó gây ra khó khăn cho bạn nhưng thực ra với người dùng có kinh nghiệm việc download lại trở nên vô cùng dễ dàng. Bạn chẳng phải nhọc công tìm tên, đường dẫn thật của từng file mà đơn giản chỉ cần biết số thứ tự của nó trong liên kết PHP.

Giữa liên kết tới file và liên kết tới trang web con tương ứng có rất nhiều điểm tương đồng. Ví dụ để tải file Nero-7.0.1.4b_eng.exe từ website www.bestdownload.com bạn cần xem trang web con với đường dẫn http://www.bestdownload.com/view.php?detail=116 để tìm ra liên kết http://www.bestdownload.com/download.php?sfid=116 cho việc download. Bạn dễ dàng nhận ra hai liên kết rất giống nhau, đặc biệt có cùng một số thứ tự, vậy việc xem trang web con là không cần thiết. Đó cũng là nguyên tắc chính của phương pháp download hàng loạt, tự động chọn lọc. Nói là tự động bởi vì để tạo sự thuận tiện cho khách, người ta thường tích hợp công cụ tìm kiếm nội dung trong website. Khác với những dịch vụ chuyên nghiệp như Google, chúng có nhiều tiêu chí sát với chủ đề, bạn chỉ cần nhập từ khóa, tiêu chí là máy chủ sẽ tự động lọc ra liên kết tới các trang web con đạt tiêu chuẩn, để tạo ra kết quả tìm kiếm dưới dạng một trang web mẹ cho việc trả lời.

Để thực hiện phương pháp này bạn cần làm 2 bước: khảo sát website để tạo danh sách file, và cuối cùng tất nhiên là ngồi đợi các file được tải về.

a) Khảo sát website chứa các file cần download để tạo danh sách file

Gọi là khảo sát cho thêm phần chuyên nghiệp, nhưng cách thực hiện lại khá đơn giản, bạn chỉ cần kiểm tra sự hạn chế từ phía nhà quản trị và so sánh các liên kết mà thôi. Thật vậy, hạn chế đầu tiên là việc bắt bạn phải làm thành viên của trang web. Điều này không thành vấn đề, bạn chỉ cần nhấn "Đăng ký" (Register) để điền các thông tin vào biểu mẫu có sẵn. Nhiều bạn lúng túng khi nhập Zip/Postal Code, nó đơn giản chỉ là mã thư tín của mỗi nước, bạn chỉ cần gõ năm chữ số bất kỳ mà thôi. Sau đó một lá thư điện tử được gửi đến địa chỉ email mà bạn đăng ký, tài khoản sẽ được kích hoạt bằng việc nhấn vào liên kết xác nhận trong bức thư này. Nếu là một người mới nhập môn, chưa tạo được cho mình một địa chỉ email thì bạn chỉ cần đăng ký (Sign up) tại một trang webmail như mail.yahoo.com chẳng hạn... (Ngoài ra còn có một vài hạn chế nữa và cách giải quyết sẽ đề cập kỹ hơn ở những phần sau).

Nếu tốc độ download là quan trọng thì việc có được danh sách chứa liên kết tới tất cả file cần tải cũng cần thiết không kém và nó sẽ được tạo ra một cách dễ dàng. Chúng ta cần so sánh hai liên kết, một với file cần download và một với trang web con tương ứng, để từ đó tìm ra điểm khác và giống nhau giữa chúng. Tiếp đó dùng chức năng dò tìm liên kết của phần mềm cho trang kết quả tìm kiếm để có được tất cả các liên kết PHP với trang web con. Dựa vào sự so sánh trên bạn dễ dàng suy ra các liên kết PHP tới những file cần tải, việc thay thế liên kết sẽ diễn ra trong file danh sách. Ví dụ, với trang www.chinagba.com (chuyên cung cấp miễn phí ROM game cho các thiết bị chơi game bỏ túi), ta có liên kết tới trang web con là http://www.chinagba.com/down/Software/View-Software-5994.html và tới file http://www.chinagba.com/down/Download.php?Go=Software::2910&Links=2

Bạn dễ thấy chúng có cùng một số thứ tự 2910, còn Links=2 cho biết cùng nội dung file nhưng ban quản trị cho phép tải về theo nhiều đường khác nhau. Giả sử phần mềm Flashget vẫn được dùng, (cũng có thể sử dụng phần mềm khác miễn là có hỗ trợ xuất nhập danh sách URL và dò tìm liên kết), bạn nhấn chuột phải vào trang kết quả tìm kiếm, trong trình đơn ngữ cảnh chọn Download All by Flashget, phần mềm sẽ tự động tìm tất cả liên kết có trên trang web hiện thời, trong danh sách liên kết được đưa ra bạn chọn các liên kết tới trang web con, chúng chỉ khác nhau ở số thứ tự. Nếu chưa quen thì nên bật bộ lọc (Filter) phần mở rộng file (File Extention) hay liên kết tới máy chủ (Host Name). Sau khi nhấn OK hộp thoại Add new download hiện ra, ở mục Start với lựa chọn mặc định Immediately , ngay lập tức phần mềm sẽ bắt đầu lưu lại các trang web con khi bạn đồng ý (chúng sẽ có lợi cho bạn sau này, được đề cập ở phần sau, vả lại dung lượng cũng rất nhỏ nên tác giả khuyên bạn hãy đợi để tải về), còn không bạn đánh dấu vào ô Manual hoặc Schedule rồi nhấn OK hai lần để giữ nguyên thiết lập đó với các liên kết khác. Tiếp theo hãy bôi đen tất cả và chọn File \ Export list để lưu các liên kết thành file có tên WEBS.lst chẳng hạn (phần mở rộng tùy thuộc vào mỗi chương trình). Mở danh sách file vừa tạo bằng Notepad, chọn Edit \ Replace, trong Find what: gõ ".html", trong Replace with: gõ "Links=2", nhấn Replace All để tự động tìm và thay thế. Lặp lại thao tác trên bạn thay "Software/View-Software-" bằng "Download.php?Go=Software::". Ngay lập tức liên kết tới những trang web con được "hô biến" thành link của các file cần tải. Ta lưu lại với tên FILES.lst và trở về với Flashget, vào File \ Import list để chọn FILES.lst và tất cả các file bạn cần được liên tục tải về một cách chính xác. (Cần lưu ý phiên bản Notepad ở các hệ điều hành cũ hơn như Windows 98 sẽ không có tính năng Replace nên bạn cần thay thế bằng một công cụ sẵn có như WordPad).

Hình 11

Đôi khi những bài hát, phần mềm... nằm trong Top luôn được giới thiệu trên tất cả các trang trong website, kể cả trang kết quả tìm kiếm. Dù có thể mới nhất, hay nhất dưới nhận xét của nhiều người nhưng chưa chắc bạn đã cần đến chúng, nên Download All bằng phần mềm hỗ trợ sẽ chưa thật tối ưu (vì tải về cả những thứ không cần thiết). Nếu gặp trường hợp này chúng ta dùng kỹ thuật kéo thả liên kết: bôi đen các liên kết bạn cần, nhấn giữ chuột trái vào chúng và kéo đến 1 trong 3 vị trí sau rồi thả ra: Drop Zone (cửa sổ nhỏ hình chữ nhật, trong suốt rất hữu dụng vì nó cho ta biết vắn tắt các thông số, đồ thị biểu diễn sự hoạt động), ô vuông hình kính ngắm trên thanh công cụ của IE nếu chọn View\Toolbars\(Tên phần mềm) Bar , và cuối cùng chính là cửa sổ làm việc của phần mềm hỗ trợ. Với file hình ảnh bạn có thể kéo thả trực tiếp vào thư mục để lấy file, thực chất đây chỉ là sao chép từ thư mục Temporary Internet Files có sẵn trên ổ cứng. Ngoài ra với một số phần mềm, ví dụ như Flashget, ta còn có thể sử dụng tổ hợp phím Ctrl+Shift+Nhấn chuột trái lên từng liên kết để tự động download, chọn Tool\Options chuyển sang tab Monitor đánh dấu kiểm Use ALT key, nếu đánh dấu Confirmation thì hộp thoại Add new download sẽ hiện ra mỗi khi liên kết được nhấn với tổ hợp phím tắt trên và ngược lại ( Hình-11 ). Lưu ý, theo chế độ mặc định phím tắt này chỉ dùng cho IE và Nestcape 4.x/5.x; với IE7 đó cũng là phím tắt để mở tab mới, mặc dù IE7 không tự động chuyển sang new tab nhưng sau vài chục liên kết bạn cũng nên tắt các tab này đi để giảm tải. Có lẽ kéo thả hoặc sao chép liên kết vào vùng lưu trữ tạm thời vẫn tốt hơn với người dùng online, riêng copy link to clipboard có thể dùng cho bất kỳ trình duyệt nào, bạn có thể dán hoặc để phần mềm tự động quét. Phím Alt cũng được sử dụng tương tự trong ReGet Deluxe 4.2, Mass Downloader 3.26... riêng Internet Download Manager 5.02 cho phép người dùng tùy chọn một số thiết lập về phím tắt khác. ( Hình-12 )

Hình 12

Website bạn cần không có công cụ tìm kiếm? Các liên kết PHP không được sử dụng? Hay bạn không muốn tốn nhiều thời gian online? Thực tế vì muốn tiết kiệm nên người ta thường tới các điểm truy cập internet công cộng để download vì họ không tính theo dung lượng thông tin mà theo thời gian thuê máy. Chúng ta có thể tạo danh sách khi hoàn toàn offline bằng cách chỉ cần lưu lại các trang web dưới dạng file và tìm kiếm (offline) bằng chức năng Search của Windows Explorer. Thực tế, đôi khi mở trực tiếp các trang web con bằng trình duyệt sẽ ngốn của bạn nhiều thời gian hơn cả việc tải file, trong khi lưu trang web con bằng phương pháp download hàng loạt sẽ diễn ra rất nhanh. Việc "lướt" chúng offline với tốc độ nháy mắt mà ta lại có hẳn bản sao về phần đáng quan tâm của website.

b)Quá trình download

Ứng dụng tuyệt vời nhất với phương pháp này là khi bạn muốn có tất cả các bài hát do riêng một ca sĩ hay nhóm nhạc nào đó trình bày trong một website lớn, vì chỉ ở đó mới đầy đủ và được cập nhật thường xuyên. Chúng ta cũng tự động vượt qua giới hạn số lần nghe, download trong ngày của một số website với mỗi thành viên vì không phải mở nhiều trang web con. Giới hạn này thường gây khó chịu cho mọi người và là đề tài được bàn luận nhiều trong các diễn đàn. Chỉ cần một tài khoản duy nhất tác giả đã dùng phương pháp tải hàng loạt tự động chọn lọc để download hàng trăm file audio và video trên một website nhạc có thiết lập hạn chế với mỗi thành viên mà không hề gặp trở ngại về giới hạn số lần.

Trong khi download, chờ đợi không là việc duy nhất với bạn, hiện tượng server quá tải, nghẽn mạng có thể xảy ra làm gián đoạn download hay khiến ta không thể "bắt" được kết nối với các file trên server. Việc bạn cần làm là thường xuyên kiểm tra trong phần

Hình 13

Downloaded để tìm ra những file có dung lượng quá nhỏ và chọn Download again để tải lại ( Hình-13 ). Bạn cũng nên lưu ý, ngay khi bắt được liên kết với file, có thể phần mềm sẽ "giữ chỗ" bằng cách tạo một file tương ứng có cùng dung lượng nhưng nội dung phần lớn là dấu cách trong thư mục mặc định C:\Downloads, sự thực thông tin vẫn chưa được tải về hết. Nó sẽ dần dần biến thành file cần tải qua việc thay thế dấu cách bởi các ký tự biểu diễn thông tin. Nhiều người không để ý tới quá trình download hiển thị trong phần mềm mà vội sao chép các file chưa hoàn chỉnh vào thiết bị lưu trữ dĩ nhiên sẽ gặp điều bực mình.

Tuy nhiên, nguyên nhân không chỉ có vậy, nhà quản trị còn bắt máy chủ kiểm tra kết nối hiện thời của bạn tới website. Nếu chưa đăng nhập sẽ chỉ tải được những file PHP rất nhỏ (sau khi thay phần mở rộng thành HTM ta nhận ra đó là yêu cầu login). Nhưng sau khi đăng nhập, với nhiều web nhạc, rất có thể vẫn không có được kết nối tới file.Việc cần làm sau khi login là mở và chạy các bài hát bất kỳ ngay trên trang web con (thậm chí đôi khi cần phải refresh trang web), nếu bài hát được chơi tức là server không bị quá tải, đồng thời máy chủ sẽ nhận ra yêu cầu là có thực và cho phép các file còn lại được bắt đầu download. Ngoài ra với một số ít website, người xây dựng có thể thêm vào tất cả các liên kết một dãy ký tự đặc biệt, có khả năng tự động thay đổi ngẫu nhiên dựa theo hoạt động của bạn trong trang web. Tuy điều đó gây nhiều khó khăn nhưng xin đừng vì thế mà phật lòng, họ làm vậy cũng nhằm bảo vệ website trước một vài hacker xấu, để có thể phục vụ chúng ta tốt hơn mà thôi. Vả lại cũng có cách giải quyết, cũng làm như trên nhưng chỉ khác là sau khi tạo xong file FILES.lst ta không import nó ngay mà cần chỉnh sửa đôi chút. Bạn cũng vào một trang web con bất kỳ và chỉ một mà thôi, sau đó nhấn chuột phải vào link dẫn tới file trong trang web này rồi chọn Properties để xem liên kết tới file, copy dãy ký tự ngẫu nhiên mới, dùng nó để thực hiện thao tác Find&Replace (tìm và thay thế) cho các dãy ký tự ngẫu nhiên cũ và lưu lại file FILES.lst để import vào trong Flashget. Sau đó bạn không được refresh trang web hay kích hoạt bất cứ liên kết nào, cùng lắm chỉ được điều khiển các nút bấm của phần mềm Windows Media được tích

Hình 14

hợp trong trang web con nếu cần khi website kiểm tra kết nối, làm vậy để tránh liên kết bị thay đổi vì lúc này chúng ta đang sử dụng các liên kết tạm thời. Cũng vì vậy phần mềm cần hỗ trợ tải cùng lúc nhiều file để tăng cơ hội bắt được nhiều kết nối cùng lúc, bạn có thể điều chỉnh trong Tools \ Options \ Connection , ở dòng Max simultaneous jobs ( Hình-14 ). Tiện ích bổ sung Flashgethack 1.0 có thể giúp Flashget download 100 file cùng lúc (mặc định là 3, tối đa là 8), và chia một file thành 30 phần để tải (mặc định là 5, tối đa là 10). (Như đã nói, Flashgethack chỉ là một tiện ích bổ sung nhằm làm tăng sức mạnh cho Flashget và hoàn toàn không có tác dụng "bẻ khoá" để trộm quyền sử dụng phần mềm). Bạn có thể tải miễn phí Flashgethack (435kB) tại

http://www.softpedia.com/get/Internet/Download-Managers/Flashget-Hack.shtml

http://download.softpedia.com/software/internet/download_manager/flashgethack.exe

Phần mềm NetTransport ở các phiên bản cũ cũng có một tiện ích bổ sung tương tự dưới dạng file registry giúp chia một file thành 128 phần để tải cùng lúc (mặc định chia thành 10 phần và tải 2000 file cùng lúc). Tuy vậy, bạn cần hiểu các phần mềm hỗ trợ chỉ là "liều thuốc tăng lực" giúp bạn "vắt kiệt" đường truyền mà thôi.

PHẦN MỀM HỖ TRỢ DOWNLOAD PHỔ BIẾN

Trong các phương pháp download đã nêu, không có cách nào là hoàn hảo tuyệt đối ở mọi trường hợp nên cần kết hợp chúng với nhau cho hiệu quả. Nếu chọn từng file để tải giúp bạn có được cơ sở để xây dựng danh sách file thì tải hàng loạt lại tạo ra thời gian rảnh cho việc lướt web và download từng file.

Cũng tương tự như vậy, chúng ta nên sử dụng hai phần mềm hỗ trợ cùng lúc: một để download dựa theo danh sách file đã làm sẵn và một để tải trong khi lướt web, làm vậy sẽ giúp bạn tách riêng thông tin về những file đã download thành hai CSDL để tiện quản lý (cái thứ nhất lớn, rất ngăn nắp gọn gàng, còn cái thứ hai, khá lộn xộn và cũng là nền tảng giúp bạn xây dựng cái thứ nhất). Nên lựa chọn những phần mềm có ưu điểm khác biệt để chúng bổ sung các mặt mạnh cho nhau. Ví dụ như Flashget đi với IDM chẳng hạn, Flashget rất mạnh trong việc tạo danh sách file download hàng loạt, còn IDM lại có ưu điểm về tự động dò tìm liên kết Javascript, streaming...

Sẽ thật thiếu sót nếu không điểm qua một vài phần mềm hỗ trợ download phổ biến. Bạn có thể chọn cho mình những sản phẩm hữu ích với mức giá khoảng 20-40 USD. Hãy nhớ phiên bản miễn phí và thương mại có khá nhiều điểm khác biệt. ( Xem bảng )

LỜI KẾT

Với những kinh nghiệm đã nêu, mọi vấn đề giờ đây không còn quá khó khăn vì bạn đã hiểu rõ chúng, chắc chắn bạn sẽ dễ dàng vượt qua mọi trở ngại để đạt hiệu quả cao nhất trong việc download file từ Internet, thật thoải mái và thong thả. Tuy nhiên, bạn chỉ nên lấy những gì mình cần, hãy nhớ việc tải về để rồi bỏ không dùng cũng là một sự lãng phí.

Tên phần mềm - Phiên bản Nhà sản xuất / Website Thời gian cập nhật Bản quyền Dung lượng tệp cài đặt (MB) Đơn giá (USD)
BITS Download Manager 1.2 Language.Nu
www.bits.language.nu
31/3/2006 Freeware 2.73 0
Bukster 1.15 Beta CladaSoft
www.cladasoft.com
 17/3/06 Freeware 1.01 0
Download Accelerator Plus 8.04 SpeedBit
www.speedbit.com
www.downloadaccelerator.com
15/3/2006 Adware 4.11 0(free)
34.95(premium)
FlashGet 1.71 Amaze Soft
www.amazesoft.com
 17/8/2005 Adware 2.39 29.95
Fresh Download 7.50 Fresh Devices
www.freshdevices.com
 24/2/2006   1.75 0
GetRight 5.2d Headlight Software 11/1/2006 Shareware 3.17 (0.07)(*) 25
GoDownload 1.6 Maglione Lino
www.softbits.altervista.org
21/2/2006 Freeware 0.386 0
Hidownload Pro 6.9 beta2 Streamingstar
www.streamingstar.com
 10/12/2005 Shareware 2.88 39.95
Internet Download Accelerator 5.02 WestByte
www.westbyte.com/ida/
15/3/2006 Shareware 2.74 24.95
Internet Download Manager 5.02 Download Manager Tonec Inc
www.internetdownloadmanager.com
 18/3/2006 Trial 1.78 24.95
MassDownloader 3.2 SR2 MetaProducts
www.metaproducts.com
2/2/2006 Trial 1.55 19.95
Net Transport 2.1 NetXfer
www.net-xfer.com
10/2/2006 Trial 1.59 25
ReGet Deluxe 4.2 ReGet Software
www.deluxe.reget.com
 22/8/2005 Trial 1.99 29.95
Retriever 1.03 Hayden Legendre
www.halogenware.com
20/12/2006 Freeware 0.55 0
Speedy 1.0 Matthias Koch
www.koma-code.de
23/3/2006 Freeware 0.54 0
Ultra Downloader 2.4 SkySof Software 30/11/2004 Shareware 2.27 19.95
Visual File Downloader 1.4 NOVOSIB Software Co.
www.linxexplorer.com
1/1/2006 Shareware 0.74 29.95
Web Downloader 1.0.2 Jose Falcao
www.webxpace.net
29/3/2006 Freeware 0.15 0

Thông tin trong bảng được lấy trực tiếp từ mỗi website kể trên và www.softpedia.com vào ngày 2/4/2006
(*)GetRight 5.2d dùng một tệp 72kB để tải tệp setup 3,17MB cho việc cài đặt.

More about

Phân tích từng bước cơ bản trong thiết kế mạng không dây

Người đăng: vjnhhoa on Chủ Nhật, 8 tháng 4, 2012

Phân tích từng bước cơ bản trong thiết kế mạng không dây

Đứng trên quan điểm thiết kế mạng mà nói thì hệ thống không dây sẽ dành được nhiều sự ưu ái nhưng không thể thay thế hoàn toàn các kết nối chạy dây. Lý do chính của vấn đề này ở chỗ vẫn còn một số bất tiện trong hệ thống không dây. Tuy nhiên ngày nay chúng ta có thể thấy rất rõ các ứng dụng LAN không dây đang phát triển rất nhanh và có nhiều tiện lợi cho tương lai. Trong một vài năm qua chúng ngày càng được cải thiện nhiều về tốc độ, tính bảo mật, chất lượng dịch vụ và sự quản lý tập trung. Điều đó có thể cho rằng với thời gian chúng ta có thể hoàn toàn bỏ lại các thiết kế chạy dây truyền thống hay không?

Việc xác định một mạng nên được thiết kế chạy dây hoặc không dây hoặc kết hợp cả hai là rất cần thiết trong quá trình thiết kế mạng. Thông thường quyết định này phụ thuộc vào những công việc đã được thực hiện trước đó và kết quả như thế nào. Ngày nay các hệ thống thường thay đổi rất nhanh đòi hỏi chúng ta cần có sự phân tích kỹ lưỡng trong việc thiết kế một mạng.

Tham khảo các dự án thiết kế mạng LAN của một số nơi chúng tôi giới thiệu cho các bạn những thứ cần phải xem xét và cân nhắc khi thực hiện công việc này.

Công nghệ và các xu hướng

Trước tiên bạn cần phải hiểu và biết đến những công nghệ đã có trên thị trường và xu hướng tương lai của chúng. Ngày nay phổ biến là hệ thống Ethernet với tốc độ 100Mbit/s và có thể đến 1Gbit/s trên cáp xoắn.

Đối với hệ thống không dây, các chuẩn 802.11b đã được kiểm chứng trong kết nối WLAN, ngoài ra 802.11a và 802.11g cũng cho phép truyền với tốc độ cao.

Sự cần thiết của dải thông ngày càng quan trọng. Chính vì vậy IEEE đã tập trung vào việc mở rộng khả năng cho phép về dải thông trong cả hai hệ thống dây và không dây. 802.3an được đưa ra năm ngoái có thể cung cấp 10Gbit/s. Ethernet trên cáp đồng và IEEE 802.3 Higher Speed Study Group đã tuyên bố sẽ tập trung vào phát triển một chuẩn mới cho phép đến 100Gbit/s - Ethernet over copper standard

Theo 802.11 Official Timelines , 802.11n hứa hẹn cung cấp thông lượng lên đến 540Mbit/s và được lên dự án để phê chuẩn thành một chuẩn vào tháng 4 năm 2008. Các thiết bị dựa vào 802.11n (bản nháp) như Linksys Wireless-N Broadband Router đã đưa ra trên thị trường. Mặc dù vậy, việc cài đặt dựa trên một chuẩn cũ cần phải xem xét đến vấn đề cho khả năng hợp tác trong tương tai.

Vấn đề quan trọng cần phải lưu ý ở đây là nền công nghiệp thiết bị mạng đang sản xuất các sản phẩm cho cả hai môi trường đều có dải thông lớn, hệ thống chạy dây hầu như vẫn tiếp tục giữ vai trò chính trong vấn đề thông lượng.

Hội tụ là một xu hướng sẽ được tiếp tục. VoIP không phải chỉ là một tùy chọn dành cho hệ thống dây, với softphone (hệ thống điện thoại mềm) và các tập hợp của 802.11b như là Cisco Unified Wireless IP Phone 7920 đã được đưa ra. Nhiều điểm truy cập cho QoS để bảo đảm cho băng tần cần thiết trên cuộc gọi cũng đã có. Các thiết bị đầu cuối giọng nói (Voice) (dây hoặc không dây) không cần đến nhiều băng tần trên một cuộc gọi (64kbit/s) nhưng đòi hỏi phải có độ trễ thấp. Một điểm truy cập được cấu hình QoS có thể bảo đảm cho phép tải một file lớn không gây nhiễu vào cuộc gọi của người dùng khác.

Sự hội tụ không chỉ dừng lại ở VoIP. Roaming giữa IP và các mạng tổ ong cũng được đưa ra trong một dự án của T-Mobile trong một số vùng nhất định.

Việc bắt kịp với sự phát triển của công nghệ và các xu hướng là một vấn đề quan trọng nhưng chỉ thế thôi chưa đủ. Bạn cần phải hiểu một cách rõ ràng về những gì cần thiết đối với một mạng trên quan điểm người dùng.

Những vấn đề về mạng và bảo mật

Khi thiết kế một mạng, việc xem xét loại dữ liệu gì mà mạng sẽ truyền tải là rất cần thiết. Một mạng đơn giản mà nói cũng có thể coi là một công cụ và hiển nhiên mà nói thì bạn phải sử dụng đúng công cụ cho công việc. Thông qua một phân tích như vậy sẽ bảo đảm thỏa đáng hiệu suất của mạng.

Những cần thiết về băng tần có cho các ứng dụng sẽ sử dụng cần được đưa ra. Hai yêu cầu băng tần cụ thể cho ứng dụng cần phải xem xét đó là: thông lượng và độ trễ. Thông lượng là tốc độ truyền tải dữ liệu, được tính bằng bit/s còn độ trễ là thời gian chậm trong truyền tải dữ liệu.

Một vài ứng dụng như việc tải các phần mềm, duyệt web và e-mail làm việc tốt với hệ thống có độ trễ bởi vì độ trễ về thời gian ở đây là không đáng chú ý. Như đã nói ở trên, các ứng dụng thời gian thực như VoIP cũng không yêu cầu thông lượng lớn nhưng phải có độ trễ thấp. Còn một số chỗ cần có sự truyền tải dữ liệu lớn như các backup trực tuyến thì thông lượng phải lớn nhưng độ trễ lại không quan trọng.

Một người dùng kết nối vào một điểm truy cập với tốc độ 54Mbit/s mà hệ thống cáp cho phép 100Mbit/s thì kết nối được chuyển sẽ cho một hiệu suất có thể chấp nhận được. Nhưng với tất cả các thiết kế không dây thì không bằng được vì một vài hệ số sẽ làm giảm hiệu suất của người dùng.

Kết nối điểm truy cập là một mô hình mạng chia sẻ. Người dùng kết nối đến một điểm truy cập đang tải một file dữ liệu 3,5GB Linux DVD ISO từ mạng nội bộ có thể có được thông lượng trung bình (một cách thỏa đáng) 50Mbit/s từ một điểm truy cập 802.11g. Với tốc độ này việc tải file sẽ kết thúc trong khoảng (3,5GB*8b/B)/0,05Gbit/s=) 560s tức chưa đến 10 phút.

Nếu thêm vào 9 máy tính đang tải cùng file như vậy thì nhiệm vụ sẽ được hoàn tất trên khoảng 1,5h ((3,5GB*10*8b/B)/0,05Gbit/s=5.600s). Nếu cả 10 máy tính kết nối tới một switch 100Mbit/s bằng một đường lên máy chủ 1Gbit/s thì việc tải file sẽ được hoàn tất trong 1/20 thời gian hay khoảng 5 phút. Các biến khác như sự tranh chấp, gói overhead và độ dài tín hiệu được bỏ qua trong ví dụ này nhưng nhìn chung nó đã minh họa cho tầm quan trọng của các loại băng thông khác nhau.

Có nhiều hạn chế cố hữu đối với số lượng kết nối tại một điểm truy cập. Công thức tốt cho việc thiết kế là mỗi một điểm truy cập có thể hỗ trợ khoảng 20-30 người dùng đồng thời. Các ứng dụng không yêu cầu băng thông cao và độ trễ thấp sẽ phải gặp khó khăn về hiệu suất khi số lượng người dùng đồng thời trong một điểm truy cập là quá lớn.

Các điểm truy cập kết nối tới mạng xương sống quan trọng như thế nào. Trong ví dụ trước, điểm truy cập không dây được thừa nhận rằng đã có một kết nối xương sống 100Mbit/s trong đường lên (uplink). Còn đối với cả mạng lưới mạng thì sao? Phụ thuộc vào mạng lưới đó được xắp xếp như thế nào, một đường lên 54Mbit/s có thể kết nối một điểm truy cập rồi chia cho hai điểm khác thì dung lượng của đường lên đến mạng xương sống cho mỗi một điểm sẽ giảm còn 50%. Nhiều điểm truy cập hơn nữa thì độ rộng dải thông sẽ còn bị giảm hơn nữa.

Nếu mục đích chính là cho truy cập Internet thì sự hạn chế về băng thông nằm trong kết nối ISP. Trong trường hợp đó, những giới hạn về băng thông của LAN không cần quan tâm quá nhiều. Nếu xét về tính di động và giá thành thì hệ thống không dây có thể là cách nên tiến hành nhưng nó cũng gặp phải khó khăn trong vấn đề bảo mật. Mạng không dây sẽ có thêm những vấn đề phức tạp trong bảo mật vì đây là tính cố hữu của nó trong khoảng không gian mà nó bao phủ.

Thực sự mà nói, các hệ thống truyền tín hiệu bằng cáp sẽ đảm bảo sự bảo mật tốt hơn tín hiệu vô tuyến. Tuy nhiên với sự bổ sung các ứng dụng như SSL/SSH, VPN, 802.11i và Network Access/Admission Control trong các mạng không dây cho phép giảm đáng kể các rủi ro về bảo mật.

Mạng không dây xét ở một khía cạnh di động thì rõ ràng hơn hẳn mạng kết nối chạy dây. Chúng có thể cho bạn kết nối mọi nơi mọi lúc. Vì vậy nếu các vấn đề rủi ro về băng thông được giải quyết thì hệ thống không dây có thể là hệ thống sẽ được lựa chọn. Hãy nhớ rằng đây không phải là một quyết định của kỹ thuật mà kỹ thuật chỉ là một công cụ hướng đến những kết quả mong muốn của người dùng.

Chi phí và sự quản lý

Rõ ràng rằng khi thiết kế một mạng bao giờ người ta cũng phải tính nhiều đến chi phí của cáp vì một mạng máy tính không dây cũng vẫn tồn tại một vài cáp. Tuy nhiên đối với các điểm truy cập (trong các trường hợp thiết kế một mạng lưới) thì các chi phí có thể được giảm nhờ vào sử dụng các hệ thống không dây.

Chi phí cũng có thể thấp hơn bằng việc bổ sung các điểm truy cập không dây bên trong các mạng lớn. Thông thường triển khai mạng không dây thường sử dụng các điểm truy cập lớn, nơi mỗi điểm được cấu hình riêng. Hệ thống quản lý tập trung như RoamAbout Switch System của Enterasys chuyển tất cả khả năng của nó thu nhận được từ các điểm truy câp đến từng thiết bị. Với những lợi ích được mô tả bên dưới, sự quản lý điểm truy cập tập trung đã trở thành một phương pháp phổ biến trong cài đặt không dây.

Trong thiết kế WLAN truyền thống, các điểm truy cập không dây nhỏ được kết nối đến mạng công ty thông qua một LAN ảo (VLAN) Layer 3. Một VLAN được phân phối thông qua trunking hoặc xây dựng một mạng ảo có thể liên quan đáng kể đến cấu hình và chi phí thiết bị. Một VLAN được hy vọng cho những vấn đề về bảo mật và thường được phân tách với mạng công ty bằng một tường lửa và một bộ tập trung VPN.

Sự triển khai hệ thống không dây tập trung cho phép VLAN được mở rộng trên mạng chạy dây đang tồn tại. Điểm truy cập tạo một đường hầm cho sự quản lý trung tâm mà không cần quan tâm đến VLAN gì được thiết lập trên.

Nói cách khác, một điểm truy cập có thể được đặt trên một VLAN này còn điểm khác đặt trên VLAN khác, còn trong cả hai máy khách không dây ví dụ sẽ trên một VLAN không dây. Điều này sẽ làm cho việc triển khai mạng không dây tại nơi có cơ sở hạ tầng dây dẫn cố đinh đã có sẵn trở lên dễ dàng hơn nhiều.

Mô hình tập trung còn cung cấp các tính năng khác. Sự thay đổi cấu hình được áp dụng tại switch quản lý thay vì tại mỗi điểm truy cập. Khi các điểm truy cập đang truyền thông với thiết bị trung tâm thì các tính năng được nâng cao như kênh tự động, cấu hình nguồn và phát hiện lừa đảo hoàn toàn khả thi.

Việc không thuận lợi cho mô hình tập trung là các chi phí phải trả rất cao. Phần quản lý tập trung thường được bán với giá rất cao. Mặc dù vậy, nếu việc triển khai liên quan đến nhiều điểm truy cập hoặc sự mở rộng không dây được ý đinh trong tương lai thì các chi phí này là hoàn toàn thiết thực và đáng giá.

Kết luận

Như đã nói ở trên, một mạng trộn lẫn thường được ưu ái hơn. Mặc dù vậy, do tính thay đổi của công nghệ mạng, việc nắm bắt những công nghệ trong ứng dụng dây hay không dây là rất cần thiết trong việc lập dự án thiết kế mạng. Cần phải hiểu những khả năng gì đã có và kết hợp với những yêu cầu và các chính sách của công ty là một điều tối quan trọng để đi đến thiết kế một mạng tối ưu.

More about

5 bước tự phòng chống virus USB hiệu quả

Người đăng: vjnhhoa on Thứ Sáu, 6 tháng 4, 2012

5 bước tự phòng chống virus USB hiệu quả

Bạn có một chiếc USB? Cho dù bạn chỉ thỉnh thoảng sử dụng nó để sao chép tài liệu giữa các máy thì chắc rằng không dưới một lần chiếc USB của bạn đã nhiễm phải virus.

Có lẽ cũng không phải nói nhiều về những phiền toái mà bạn gặp với với những con virus đáng ghét này. Tuy nhiên bạn hoàn toàn có thể hạn chế những vị khách không mời này xâm nhập vào chiếc USB của bạn.

Virus lây qua USB đã trở nên quá phổ biến hiện nay tại Việt Nam, nhất là khi chiếc ổ di động USB đã trở thành vật bất ly thân của đại đa số học sinh, sinh viên, nhân viên văn phòng.. Những con virus này tự động xâm nhập khi bạn cắm USB của bạn vào một máy tính đã bị nhiễm virus.

Và mỗi khi bạn USB này được đưa vào một máy tính khác, virus lợi dung thói quen sơ hở của bạn mỗi khi click đúp vào biểu tượng ổ đĩa USB trong My Computer để xâm nhập. Tại đây chúng tiếp tục nhân bản và phát tán chính mình bằng nhiều đường. Và đương nhiên nạn nhân tiếp theo sẽ là những chiếc USB khác cắm vào máy.

Tại sao virus có thể lây nhiễm qua USB? Là bởi vì virus sao chép chính nó lên USB, và tạo một file Autorun.inf để kích hoạt tính năng Autoplay của ổ đĩa. Mỗi khi bạn click vào để mở USB thì bạn sẽ vô tình chạy chính con virus này. Thêm nữa, chúng khôn khéo đặt thuộc tính ẩn cho chính mình để tránh bị phát hiện.

Làm thế nào để có thể phát hiện ra được USB có virus hay không? Nếu như bình thường bạn mở USB bằng cách click chuột trái vào biểu tượng USB ở My Computer thì hãy thay đổi thói quen đó. Hãy thử click chuột phải vào biểu tượng ổ USB, nếu như bạn thấy có dòng Autoplay được tô đậm ở vị trí trên cùng, có nghĩa là 90% USB đó đã bị nhiễm virus. Bởi vì bình thường thì dòng chữ tô đậm ấy phải là Open hoặc Explorer thay vì Autoplay .

Điều này còn có thể áp dụng với các ổ đĩa cứng, một vài con virus sau khi lây vào máy còn lây vào Autoplay của các ổ cứng. Quá trình lây vào ổ cứng khiến cho virus vẫn có thể được kích hoạt mà không cần phải sao chép vào Start Up, một nơi vẫn thường xuyên được kiểm tra. Tuy nhiên, các virus USB thường tự đặt nó trong trạng thái ẩn, chính vì vậy tốt nhất bạn nên thường xuyên đặt chế độ xem các file ẩn bằng cách vào My Computer -> Tools -> Folder Options .. -> View -> Chọn Show hidden files and folders và bỏ Hide protected system files .

Tự bảo vệ mình như thế chưa đủ. Tốt nhất hãy bảo vệ USB của mình khỏi bị nhiễm virus. Bạn hoàn toàn có thể tự làm được ngay cả khi bạn không phải là một người am hiểu về máy tính.

Thật vậy, nếu như virus lây vào USB của bạn và tìm cách lừa bạn chạy nó qua tính năng Autoplay của USB thì tại sao bạn lại không thử lừa lại nó. Để ý rằng virus USB nào cũng tạo file autorun.inf , vậy thì bạn hãy tạo sẵn file autorun.inf trong USB của mình. Chắc chắn rằng chỉ với bước này bạn đã "qua mặt" được kha khá virus USB rồi.

Nhưng xem ra như thế vẫn chưa đủ, bạn cần phải cấm các con virus thông minh hơn ghi đè file này. Điều này bạn cũng hoàn toàn có thể làm được dễ dàng với USB nếu như bạn chuyển hệ thống file của USB sang NTFS và đặt quyền cấm ghi đè cho file autorun.inf.

Tất nhiên việc chuyển hệ thống files sang NTFS thì USB của bạn sẽ không thể dùng được trên Windows 98/ME, nhưng chắc rằng Windows 98/ME thì cũng không tự động nhận được USB của bạn, hơn nữa Windows 98/ME hiện nay cũng hơi hiếm thấy.

Khi bạn đã sẵn sàng, hãy bắt đầu bảo vệ USB của bạn qua những thao tác đơn giản với Windows XP qua 5 bước sau:

Bước 1 : Xác định tên ổ đĩa USB của bạn là gì bằng cách click vào My Computer và xác định ổ USB. Ví dụ như USB của bạn là ổ E: và nhãn là STORAGE

Bước 2 : Chuyển đổi hệ thống files sang NTFS bằng cách Click vào Start -> Run , sau đó gõ convert : /FS:NTFS . Ví dụ bạn sẽ phải gõ convert E: /FS:NTFS . Lưu ý, nếu ổ USB của bạn có chức năng ghi âm và nghe nhạc MP3 thì nên bỏ qua bước này. Nếu không, có thể phần mềm chơi nhạc của bạn sẽ không thể chạy các file MP3 được.

Bước 3 : Tạo một file autorun.inf với nội dung bất kì, thậm chí để trống cũng được và copy vào thư mục gốc của ổ đĩa USB của bạn.

Bước 4 : Click chuột phải vào file autorun.inf bạn vừa tạo và chọn thuộc tính cho file này là read-only , bạn cũng có thể chọn thêm hidden .

Bước 5 : Cấm mọi quyền truy xuất vào file autorun.inf bạn vừa tạo bằng cách Click vào Start -> Run , sau đó gõ cacls \autorun.inf /D Everyone . Ví dụ như bạn sẽ gõ cacls E:\autorun.inf /D Everyone

Tất nhiên là không thể nói là an toàn với tất cả các loại virus USB, nhưng phương pháp này cũng phần nào giúp cho USB của bạn an toàn trước đại đa số chuyên lây qua USB hiện nay. Và hơn hết, hãy cài lên máy của mình một chương trình diệt virus đáng tin cậy, đặc biệt nên có tính năng tự động cập nhật thường xuyên. Chúc bạn thành công.

More about

30 thủ thuật tối ưu PC của bạn

Người đăng: vjnhhoa on Thứ Tư, 4 tháng 4, 2012

Muốn tăng tốc độ của kết nối băng thông rộng? Muốn chẩn đoán nguyên nhân làm hệ thống "ngã quỵ"? Hay muốn chuyển tập tin dung lượng lớn qua mạng Internet? Trên 30 thủ thuật giới thiệu trong bài viết này có thể giúp ích cho bạn.

Máy tính đang làm gì

Tiện ích Task Manager của Windows là bước khởi đầu tốt cho việc khám phá những chương trình đang chạy trong hệ thống. Để biết chi tiết hơn, bạn cần đến công cụ khác chẳng hạn như Sysinternals Process Explorer (find.pcworld.com/56140, Microsoft đã mua lại hãng Sysinternal năm ngoái). Tiện ích này không yêu cầu cài đặt, bạn chỉ cần giải nén và chạy tập tin .exe. Sau đó, Process Explorer sẽ liệt kê các tiến trình đang thực thi của máy tính, số lượng tương đương Task Manager nhưng mô tả và sắp xếp tốt hơn.

Những thông tin mà Process Explorer cung cấp dễ hiểu (việc tắt các tiến trình cũng tương tự như Task Manager), có vài thủ thuật giúp bạn khai thác tối đa tiện ích này:

   

Kiểm tra đĩa DVD
Với 7 định dạng ghi đĩa DVD hiện nay, thật khó đảm bảo đĩa phim mà bạn vừa tạo có thể xem được trên đầu phát DVD ở nhà. Bạn có thể tìm danh sách các loại đĩa mà đầu phát CD/DVD của mình hỗ trợ theo tên hãng sản xuất và tên model trên VideoHelp.com (find.pcworld.com/56139).

 

· Bổ sung cột thông số "Handles" để tiện đánh giá mức sử dụng tài nguyên của các tiến trình. Các tiến trình có giá trị Handles cao là những lựa chọn đầu tiên mà bạn phải tắt đi khi cạn kiệt tài nguyên hệ thống. Để bổ sung thông số này, nhấn phải chuột lên vùng thanh tiêu đề và nhấn tùy chọn Select Column. Sau đó, chọn thẻ Process Performance và đánh dấu chọn Handle Count.

· Lưu ý, thông số Handles cũng được tạo cho các thiết bị lưu trữ như ổ đĩa CD-R và có thể gây lỗi khi lấy đĩa ra. Nếu không thể lấy đĩa CD hay thẻ nhớ ra đúng cách an toàn, hãy sử dụng trình đơn Find để tìm tên ổ đĩa (có dấu ':' ở sau) và tắt trực tiếp tiến trình đó.

· Thay vì ngay lập tức tắt một tiến trình, bạn có thể tạm thời đình chỉ nó (nhấn phải chuột lên một tiến trình để thấy tùy chọn này). Giải pháp này rất hữu ích trong trường hợp một chương trình đã thực thi xong nhưng đang mắc kẹt trong một vòng lặp vô hạn (không thể kết thúc).

· Muốn biết tên tiến trình của một chương trình? Hãy chạy chương trình đó, sau đó chuyển sang Process Explorer. Ở góc trên bên phải của cửa sổ có biểu tượng các hình tròn đồng tâm, nhấn vào biểu tượng này và kéo nó vào chương trình mà bạn muốn nhận diện; Process Explorer sẽ tô sáng tiến trình tương ứng.

Hình 1: Process Explorer cung cấp thông tin chi tiết về các tiến trình đang thực thi trong máy tính.

Công cụ tinh chỉnh Windows

Microsoft cung cấp một bộ sưu tập khá lớn với các tiện ích hữu dụng nhưng không được chính thức thừa nhận và hỗ trợ kỹ thuật mang tên PowerToy. Bạn có thể tải về tất cả tiện ích của PowerToy từ địa chỉ find.pcworld.com/56138.

· CleatType Tuner: giúp hiển thị font chữ dễ đọc hơn trên một số màn hình LCD.

 
Hình 2: Image Resizer cho phép bạn dễ dàng thu giảm kích thước nhiều ảnh cùng lúc.

· Image Resizer: Bổ sung một trình đơn mới khi bạn nhấn phải chuột lên một ảnh. Bạn chỉ cần chọn Resize Pictures để thay đổi kích thước ảnh mà không cần mở tiện ích xử lý ảnh.

· Tweak UI: Cung cấp nhiều khả năng kiểm soát chi tiết đối với các thiết lập bảo mật và vận hành của máy tính, quản lý cả cách bạn đăng nhập máy tính cùng nhiều tính năng khác nữa.

· Alt-Tab Replacement: Bổ sung tính năng xem trước (preview) khi bạn chuyển đổi qua lại giữa các cửa sổ ứng dụng bằng tổ hợp phím - .

* SyncToy: Cải thiện tác vụ đồng bộ tập tin giữa nhiều máy tính, đặc biệt so sánh với Windows Briefcase.

Bảo mật mạng không dây

Thực tế cho thấy, hầu hết router không dây (WiFi) đều không an toàn. Việc khắc phục lỗi này có thể thực hiện chỉ trong vài phút nhưng bạn có thể bị sa lầy trong những trình đơn rối rắm của công cụ quản lý router. Sau đây là những gì bạn cần làm.

1 Nếu được, hãy nối router vào mạng ethernet nội bộ để cài đặt ban đầu - việc này tiết kiệm khá nhiều thời gian cho bạn. Đừng mất công cài phần mềm đặc biệt đi kèm router. Hầu hết router đều có thể kiểm soát thông qua trình duyệt, cho phép bạn quản lý router từ bất kỳ máy tính nào có nối mạng.

2 Để quản lý router, bạn nhập địa chỉ IP của router vào thanh địa chỉ trong cửa sổ trình duyệt. Nếu bạn không biết địa chỉ này, nhấn Start.Run và gõ vào lệnh ipconfig/all rồi ấn . Địa chỉ IP của router sẽ hiển thị ở mục "Default Gateway". Trong nhiều trường hợp, bạn cần nhập vào tên tài khoản và mật khẩu (tham khảo tài liệu hướng dẫn sử dụng đi kèm).

3 Một khi bạn có thể quản lý router, hãy thay đổi ngay mật khẩu của tài khoản quản trị. Tính năng này thường xuất hiện ở mục System Settings hay tùy chọn tương tự.

Hình 3:
Sử dụng công cụ quản lý của router thay đổi mật khẩu mặc định của tài khoản quản trị.
 

4 Kế đến, hãy bật tính năng mã hóa. WPA (hay WAP-PSK) là chuẩn mã hóa thường được sử dụng trong các router không dây hiện nay. Hãy thiết lập một khóa WPA và cấu hình các máy trạm sử dụng khóa mới này. Nếu một thiết bị trên mạng của bạn không hỗ trợ phiên bản WPA mà bạn muốn sử dụng thì bạn cần chuyển sang một phương thức bảo mật kém an toàn hơn. Hãy tìm mục "Encryption" hay "Security" trong phần quản lý tính năng không dây, đây cũng là nơi bạn thực hiện các thiết lập tiếp theo.

5 Tốt hơn nữa bạn nên thay đổi tên mục SSID, mặc định thường là "linksys" hay "belkin". Hãy chọn một cái tên SSID không mấy thu hút đối với người dùng khác (chẳng hạn như "janesWIFI" hay "Cafe TG"). Còn để tuyệt đối an toàn, bạn hãy tắt tính năng phát thông tin SSID.

6 Tùy chọn: Hãy kích hoạt tính năng kiểm soát địa chỉ MAC để hạn chế truy xuất đối với các máy tính theo địa chỉ MAC duy nhất. Biện pháp này có thể cải thiện tính an toàn cho hệ thống nhưng các địa chỉ MAC thường dễ bị "bắt chước" và việc sử dụng tính năng này đồng nghĩa với việc bạn phải quay lại trang chủ của router để bổ sung các máy tính mới vào mạng. Để xác định địa chỉ MAC của một máy tính, sử dụng lệnh ipconfig như ở bước 2, tìm giá trị cần thiết ở mục "Physical Address". Sau đó, trong trang web cài đặt router, bạn bổ sung địa chỉ này vào danh sách cho phép kết nối mạng.

Hình 4: Kích hoạt tính năng mã hóa WPA hay WPA-PSK ở mục Security.

Chẩn đoán trục trặc

Bất kỳ khi nào hệ thống "ngã quỵ" hay một ứng dụng bị "treo" thì tiện ích Event Viewer đều có ghi nhận lỗi. Dưới đây là hướng dẫn sử dụng Event Viewer d? tm l?i.

1 Khởi chạy Event Viewer (chọn Start•Settings•Control Panel• Administrative Tools•Event Viewer). Mục System của tiện ích này ghi lại các vấn đề liên quan đến Windows (bao gồm cả phần mạng) còn mục Application dành cho các ứng dụng khác. Bạn sẽ không thấy nhiều ghi nhận về các hoạt động (event) ở mục Security vì nó được mặc định tắt và chỉ được mở nếu có phần mềm bổ sung của Microsoft (nhưng thật ra cũng không giúp ích được gì).

 
Hình 5:
Lưu ý các event được đánh dấu "Error"; nhấn đúp chuột vào mục này để biết thêm thông tin.

2 Các event tự bản thân đã có khả năng tự giải thích: thông tin về ngày tháng và giờ của mỗi event được ghi nhận lại tên cùng với nhiều thông tin khác. Hầu hết event sẽ được ghi chú là "Information" và thường không cần quan tâm. Bạn chỉ cần quan tâm đến những event có ghi chú là "Error" hay "Warning". Bạn có thể xem thông tin chi tiết bằng cách nhấn đúp chuột vào event tương ứng để mở cửa sổ Event Properties.

3 Trong cửa sổ Event Properties, bạn sẽ tìm thấy thông tin chi tiết về lỗi và một đường link đến website hỗ trợ kỹ thuật của Microsoft. Nhấn vào đường link này sẽ mở ra cửa sổ Windows Help (không phải cửa sổ trình duyệt) hiển thị thông tin chi tiết về lỗi. Tuy nhiên, thường thì bạn chỉ có được ít thông tin về sự cố chứ không có hướng dẫn khắc phục.

4 Để có thêm thông tin về loại lỗi và ý nghĩa của chúng, bạn hãy sử dụng tính năng tìm kiếm trên trang chủ EventID.net. Tại đây, bạn có thể nhập vào mã số của event lỗi hay tìm kiếm theo chuỗi từ khóa (dựa trên tên ghi ở cột Source trong tiện ích Event Viewer).

Ngoài ra, bạn có thể tham khảo bài viết "Event Viewer - Phát hiện nhanh lỗi trong Windows" (ID: A0605_152) để hiểu rõ hơn về công cụ chẩn đoán sự cố này của Windows.

 

THẮT CHẶT AN NINH MÁY TÍNH

 
 

1 Tạo mật khẩu cho tài khoản quản trị. Bạn có thể tìm thấy tùy chọn này trong mục Start•Settings•Control Panel•User Accounts.
2 Bảo vệ bằng mật khẩu cho tiện ích bảo vệ màn hình (screen-saver): Đến cửa sổ Settings•Control Panel•Display. Chọn thẻ Screen Saver. Đặt giá trị mục Wait time ở mức 5 (phút) và đánh dấu tùy chọn On Resume, password protect. Mật khẩu chính là mật khẩu tài khoản đăng nhập của bạn.
3 Tắt tính năng chia sẻ tập tin trong Windows Explorer. Mở tiện ích Explorer, chọn Tools•Folder Options•View. Tìm và bỏ chọn đối với mục Use simple file sharing, sau đó nhấn Apply.
4 Tắt tính năng tường lửa của Windows. Đến cửa sổ Settings•Control Panel•Windows Firewall và đánh dấu tùy chọn off ở thẻ General. Sau đó, bạn cần cài đặt một phần mềm tường lửa khác, chẳng hạn ZoneAlarm.
5 Kích hoạt tính năng tự động cập nhật. Đến cửa sổ Settings•Control Panel•Automatic Updates. Đánh dấu tùy chọn đầu tiên để Windows tự động tải về và cài đặt các bản cập nhật mới. Nếu bạn muốn kiểm soát chặt chẽ hơn việc này, hãy sử dụng tùy chọn thứ 2 hoặc thứ 3.
6 Cài một phần mềm phòng chống virus, bật tính năng tự động cập nhật và thiết lập tính năng quét hệ thống theo lịch định.
7 Cài một phần mềm phòng chống spyware và cũng thiết lập tính năng kiểm tra hệ thống theo lịch định. Một số phần mềm phòng chống virus và spyware thông dụng còn có tính năng bảo vệ hệ thống ở chế độ thời gian thực, bạn nên sử dụng tính năng này.
8 Bật tính năng chặn cửa sổ pop-up của trình duyệt. Trong IE 7, chọn Tools•Popup Blocker Settings và đánh dấu tùy chọn Medium (đây là tùy chọn mặc định, nhưng bạn dễ dàng tắt tính năng này); để chặn tất cả cửa sổ pop-up, chọn High.
9 Tùy chọn: Thiết lập mật khẩu BIOS trong tiện ích PC Setup.
10 Tùy chọn: Tăng giá trị cho các thông số bảo mật của trình duyệt. Trong IE 6, chọn Tools.Internet Options. Privacy và di chuyển thanh trượt đến mức High.

 

Ẩn danh khi duyệt web

Trước đây không lâu, việc giấu hành tung trên mạng trong khi duyệt web thường đồng nghĩa với việc truy xuất trung gian thông qua một máy chủ proxy hay sử dụng một phần mềm proxy như Anonymizer (30USD, www.anonymizer.com, xem thêm về dịch vụ này ở mục Thông tin sản phẩm cũng trong số tạp chí tháng này).

Hiện nay đã có một giải pháp hiệu quả hơn và hoàn toàn miễn phí, đó là trình duyệt Torpark (www.torrify.com). Đây là một trình duyệt dựa trên nền tảng Firefox, được thiết kế đặc biệt để truy xuất các proxy mã hóa của mạng Tor. (xem thêm bài viết "Duyệt web với địa chỉ IP ảo", ID: A0605_149).

Khi sử dụng Torpark, dữ liệu của mỗi phiên làm việc web sẽ được phân qua nhiều proxy bảo mật mã hoá suốt đường truyền cho đến khi nào yêu cầu gặp đúng máy chủ cần thiết. Torpark không yêu cầu cài đặt, bạn chỉ cần khởi chạy tập tin thực thi khi cần dùng (đảm bảo biểu tượng Tor Network ở trạng thái tích cực khi trình duyệt bắt đầu).

Dù vậy, bạn nên biết việc duyệt web bảo mật luôn chậm hơn so với hình thức duyệt web thông thường vì thế hãy bỏ qua cách này nếu thực sự bạn không cần bảo mật.

 

TỐI ƯU CẤU HÌNH

 
 

1 Tinh chỉnh cách hiển thị trình đơn Start: nhấn phải chuột vào nút Start, chọn Properties và Customize. Ở nhãn Advanced, bạn sẽ thấy một danh sách các đối tượng mà bạn có thể chỉnh sửa.
2 Hiển thị tất cả tập tin: mở Windows Explorer, chọn Tools•Folder Options•View. Đánh dấu chọn mục Show hidden files and folders; bỏ chọn mục Hide extensions for known file types và Hide protected operating system files.
3 Bật tính năng System Restore: chọn Start•Settings•Control Panel•System, ở nhãn System Restore, kích hoạt tính năng này nếu cần thiết.
4 Tắt tính năng tự động khởi động lại khi gặp lỗi (Auto-Restart on Error): khi mở tính năng này, bạn sẽ không thể tìm ra nguyên nhân mà máy tính gặp phải. Nhấn phải chuột vào biểu tượng My Computer, chọn Properties, nhấn vào thẻ Advanced, chọn Settings bên dưới mục Startup and Recovery và bỏ đánh dấu tùy chọn Automatically Restart bên dưới mục System failure.
5 Tắt tính năng báo cáo lỗi: Mở cửa sổ Settings•Control Panel•System. Ở thẻ Advanced, nhấn Error Reporting và chọn Disable error Reporting.

Tinh chỉnh kết nối băng rộng

Để tăng tốc kết nối băng thông rộng đang sử dụng, hãy thực hiện theo các bước sau.

· Trước tiên, bạn đo tốc độ kết nối hiện tại. Hãy đảm bảo rằng không có thứ gì trên mạng đang kết nối Internet và tắt ngay những ứng dụng có liên quan đến Internet (chẳng hạn như tiện ích thư điện tử, trình download...). Kế đến, đến trang chủ Speakeasy (www.speakeasy.net/speedtest). Chọn tên một máy chủ để đo tốc độ tải lên và tải xuống. Lưu ý, bạn thường sẽ nhận được kết quả cao đối với các máy chủ ở gần, nhưng điều đó cung cấp cho bạn một mốc đánh giá tốc độ cao nhất của kết nối. Hãy thử lại phép thử này một lần nữa với máy chủ khác (càng xa càng tốt). Ngoài ra, bạn cũng có thể thực hiện phép thử tương tự tại BroadbandReport.com.

Nếu bạn muốn kiểm soát liên tục tình trạng hoạt động của kết nối, hãy sử dụng tiện ích DU Meter (www.dumeter.com) có khả năng ghi nhận lại tất cả hoạt động mạng bất kể bạn đang sử dụng loại kết nối nào.

 
Hình 6:
Kiểm tra tốc độ đường truyền với dịch vụ Speakeasy.

· Bạn có thể cải thiện tốc độ mạng thông qua các tinh chỉnh Windows Registry dù việc này thường phức tạp và có độ rủi ro cao. Tuy nhiên, Tweak Tester (www.dslreports.com/tweaks) có thể đơn giản hóa mọi thứ. Ở mục Tweak Tester II, bạn nhấn vào nút Start để bắt đầu. Kết quả sẽ xuất hiện trên một trang web mới. Bạn hãy để mắt đến mục "Notes and recommendations" ở trang này, nơi có thể đọc được mọi cài đặt giúp cải thiện hiệu quả làm việc của mạng (bạn có thể in trang này ra giấy để tham khảo). Thường thì chỉ có thông số TCP Receive Windows có tác dụng.

· Kế đến, tải về và khởi chạy Dr.TCP (www.dslreports.com/drtcp). Bạn có thể chạy trực tiếp tiện ích này mà không cần cài đặt, tốt hơn hết là bạn nên lưu lại Registry của Windows (chọn Start.Run, gõ vào lệnh regedit và ấn ; sau đó chọn File.Export). Điền các thay đổi mà bạn đọc được trong Test Tweaker vào cửa sổ Dr.TCP và tiện ích này sẽ tự động chỉnh sửa Registry giúp bạn. Sau cùng, hãy sử dụng 1 trong 2 phép thử được nêu ở bước đầu tiên để kiểm tra xem kết quả của việc tinh chỉnh này.

· Bạn cũng có thể cải thiện tốc độ duyệt web bằng cách tăng số lượng phiên tải về (download session) trong trình duyệt. Mặc định, Windows giới hạn 2 phiên tải về cùng lúc nhưng bạn có thể nâng con số này lên 8 hoặc 10 tùy thích. Cách thực hiện như sau:

Hình 7:
Điền các thay đổi được Tweak Tester đề nghị vào cửa sổ Dr.TCP. Tiện ích sẽ giúp bạn thay đổi Registry.
 

[1] Nhấn Start.Run, gõ vào lệnh regedit , sau đó ấn .

[2] Tìm mục HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Windows\CurrentVersion\Internet Settings.

[3] Nhấn phải chuột lên khung cửa sổ bên phải và chọn New.DWORD Value.

[4] Đặt tên cho khóa này là MaxConnectionsPerServer. (nếu đã có khóa này, bỏ qua bước này).

[5] Nhấn đúp chuột vào khóa này và điền một giá trị số (chẳng hạn như 9) vào mục "Value data". Tiếp đến, đánh dấu tùy chọn Decimal và nhấn OK.

[6] Thực hiện lại 3 bước trên với khóa MaxConnectionsPer1_0Server.

 

5 TIỆN ÍCH MIỄN PHÍ HỮU ÍCH

 
 

1 PureText: Sao chép văn bản và loại bỏ tất cả định dạng, như in nghiêng và thẻ HTML. find.pcworld.com/56110.
2 AOL Active Virus Shield: một công cụ phòng chống virus "hạng nặng" với cơ chế bảo mật của Kaspersky. Tương thích với hệ điều hành Windows 98 trở lên. find.pcworld.com/56109.
3 AVG Anti-Spyware 7.5: Một công cụ gỡ bỏ spyware hiệu quả khi những công cụ khác đã "bó tay". find.pcworld.com/56108.
4 SpamBayes: Tiện ích chống thư rác bổ sung cho Outlook không hoạt động dựa trên các danh sách địa chỉ email đen mà làm theo những gì bạn huấn luyện. find.pcworld.com/56107.
5 HTTrack: Tiện ích tạo bản sao các website hay trang web trên PC để thuận tiện cho việc tham khảo sau này. HTTrack cũng có thể cập nhật website đã được tạo bản sao và khôi phục các download bị đứt. www.httrack.com.

 

Khắc phục lỗi kết nối không dây

WiFi hết sức thuận lợi nhưng cũng mang đến nhiều phiền toái, đặc biệt ở những khu vực có quá nhiều nguồn phát tín hiệu WiFi. Nếu đang đau đầu vì mất tín hiệu, bạn thử thực hiện theo các bước sau để khắc phục.

1 Máy tính của bạn có lẽ cần "giải lao" đôi chút. Cách tốt nhất là nhanh chóng ngắt kết nối và sau đó kết nối lại đến router - nhấn phải chuột lên biểu tượng mạng không dây trên khay hệ thống và chọn Repair. Nếu thao tác trên không khắc phục được sự cố và bạn nghi ngờ đây là lỗi máy tính, hãy mở cửa sổ dòng lệnh (chọn Start.Run, gõ vào lệnh cmd và ấn ) và gõ vào lệnh ipconfig /renew. Tác vụ này thực hiện gần như tuơng tự lệnh Repair nhưng bỏ qua sự tác động của Windows. Nếu vẫn thất bại, bạn khởi động lại máy.

   

Định dạng iPod để sử dụng với pc
Máy nghe nhạc iPod mới mua có thể chỉ được cấu hình để làm việc với máy Mac chứ không phải PC. Bạn phải định dạng lại nó để có thể làm việc với hệ thống tập quản lý của Windows (máy Mac sẽ nhận dạng ra một chiếc iPod được định dạng theo Windows, nhưng ngược lại thì không). Hãy tải về và cài đặt tiện ích iTunes (find.pcworld.com/56112), sau đó cắm iPod vào máy tính. Ở vùng cửa sổ bên trái của iTunes, bạn sẽ thấy iPod của mình xuất hiện bên dưới mục Device. Nhấn chuột vào tên iPod, sau đó nhấn Restore và thực hiện theo hướng dẫn. Tác vụ này sẽ định dạng lại iPod để sử dụng với Windows. Nếu Windows không thể nhận thấy iPod, hãy tham khảo cách khắc phục tại địa chỉ find.pcworld.com/56113.

 

2 Nếu trục trặc vẫn tiếp diễn, ngắt điện cấp nguồn cho router, chờ khoảng 10 giây và sau đó cấp nguồn trở lại. Máy tính của bạn cũng cần kết nối lại sau khi router khởi động lại. Router thỉnh thoảng bị treo, do đó cấp lại nguồn là biện pháp hữu hiệu nhất để nó hoạt động lại. (Trừ phi không thể "đụng tay đụng chân" trực tiếp đến router, bạn đừng bao giờ khởi động lại thiết bị này thông qua một tiện ích quản lý; việc này thường mất nhiều thời gian và tiện ích có thể không đáp ứng).

3 Nếu bạn vẫn vấp phải những sự cố thông thường, rất có thể do hiện tượng xung đột kênh tín hiệu (channel) do các router WiFi đang hoạt động trong cùng quãng tần số hẹp. Hãy tải về và chạy tiện ích WirelessMon (find.pcworld.com/56130). Hãy nhìn vào biểu đồ "Channel Use": thanh màu đỏ và vàng cho biết một kênh tín hiệu đang được sử dụng ở mức cao, trong khi màu xanh hay không màu tương ứng với kênh đang rỗi. Nếu router của bạn đang hoạt động trên một kênh tín hiệu đông đúc, hãy chuyển sang một kênh khác trống trải hơn.

Hình 8: So sánh kênh tín hiệu của router với các biểu đồ Channel Use ở bên phải. Chuyển router sang kênh khác nếu kênh hiện hành quá bận (biểu đồ màu đỏ hoặc vàng).

Lưu nội dung dạng truyền phát

 
Hình 9:
Chỉ cần điền vào địa chỉ URL của đoạn video, KeepVid.com sẽ cho bạn tập tin tải về.

Hiện có rất nhiều website cho phép người dùng nghe nhạc và xem phim dưới hình thức truyền phát dữ liệu (streaming), tuy nhiên bạn không thể tải về và lưu lại chúng trên máy tính. Sau đây là cách mà bạn có thể tải về những nội dung truyền phát ở các định dạng khác nhau.

· Âm thanh: Để ghi lại các chương trình radio trên Internet, hãy sử dụng tiện ích Replay A/V (50USD, find.pcworld.com/56129), hỗ trợ tất cả định dạng âm thanh như Windows Media, Real, QuickTime, Flash và thậm chí NSV của AOL.

· Video: Bạn có thể ghi lại các đoạn video dạng Flash (như các tập tin YouTube và Google Video) với trang chủ KeepVid.com. Chỉ cần điền vào địa chỉ URL của đoạn video, KeepVid sẽ chuyển nó sang tập tin FLV để bạn tải về. Để xem tập tin này, sử dụng phần mềm chẳng hạn FLV Player (find.pcworld.com/56128) hay VLC (find.pcworld.com/56127). Để thuận tiện hơn, bạn nên chuyển tập tin này sang định dạng .avi, .mov hay .mp4 bằng cách ghé thăm trang chủ http://vixy.net/. Những website và phần mềm trên đều miễn phí.

 

TẮT ỨNG DỤNG PHIỀN PHỨC

 
 

Ngày càng có nhiều ứng dụng liên tục làm phiền bạn bằng cách mở cửa sổ pop-up hay chèn biểu tượng vào khay hệ thống đông đúc. Sau đây là cách "xử lý" một số ứng dụng phiền toái nhất.
· Apple QuickTime: Để gỡ bỏ biểu tượng khỏi khay hệ thống, nhấn phải chuột vào biểu tượng đó và chọn QuickTime Preferences. Nhấn Advanced và bỏ đánh dấu tùy chọn Install QuickTime icon in system tray.
· Windows Messenger: Để ngăn chặn spam từ Windows Messenger, hãy tắt dịch vụ này. Nhấn Start•Settings•Control Panel•Administrative Tools. Nhấn đúp chuột vào mục Services. Cuộn xuống và nhấn đúp vào mục Messenger. Nhấn Stop và chọn Disabled trong mục Startup type.
· Real Player: Để gỡ bỏ cửa sổ pop-up, nhấn phải chuột lên biểu tượng Real Player trên khay hệ thống. Nhấn Set Real Message Center preferences... Bỏ đánh dấu chọn đối với tất cả hộp thoại. Nhấn Yes trên màn hình Warning. Để gỡ bỏ phần mềm phiền toái này, mở cửa sổ Add or Remove Programs trong Control Panel. Trước hết, gỡ bỏ tiện ích The Weather Channel Desktop (nhấn No thanks... ở phần cảnh báo và thoát khỏi cửa sổ trình duyệt khảo sát sau đó); sau đó gỡ bỏ tiện ích Weather Services. Bạn phải gỡ bỏ chúng theo thứ tự.

 
 
 

Tạo phím tắt

Bạn có thể tự động hóa tác vụ chọn-và-nhấn chuột bằng cách sử dụng phím tắt.

 
Hình 10: Gán phím tắt cho một ứng dụng hoặc tập tin.

· Windows cho phép bạn gán một lệnh bàn phím vào bất kỳ biểu tượng tắt nào (lưu ý, bạn không thể gán một phím tắt cho một tập tin). Chỉ cần nhấn phải chuột lên một biểu tượng, chọn Properties. Ở mục "Shortcut key", ấn tổ hợp phím tắt mà bạn muốn gán cho tác vụ khởi chạy biểu tượng tắt - tổ hợp này phải bao gồm 1 ký tự chuẩn cộng với 2 hoặc 3 phím , hay .

· Để tạo những tổ hợp phím tắt phức tạp, bạn hãy sử dụng tiện ích Keyboard Shortcuts (find.pcworld.com/56132). Với những phím tắt này, bạn có thể khởi chạy bất kỳ tập tin nào, thực hiện các lệnh hệ thống (chẳng hạn như thoát khỏi một tài khoản người dùng hay tắt máy) hay mở một địa chỉ URL bất kỳ trong trình duyệt. Một tổ hợp phím tắt còn có khả năng thực hiện vài tác vụ cùng lúc hoặc tuần tự.

· Ngoài ra, để có những phím tắt phức tạp hơn, hãy sử dụng một tiện ích tạo macro để ghi lại chi tiết từng bước thực hiện và lặp lại chúng bằng lệnh. Tiện ích Workspace Macro (find.pcworld.com/56131) có thể ghi lại mọi thao tác bàn phím mà bạn thực hiện cũng như các di chuyển chuột và động tác nhấn chọn (click). Bạn chỉ cần nhấn New để ghi lại một macro và nhấn Stop sau khi hoàn tất. Nếu bạn muốn gán một phím tắt cho một macro, bạn sẽ cần đến một phần mềm riêng biệt khác là Launch-N-Go (25USD).

  Phím tắt     Tác vụ  
  F2     Đổi tên tập tin (trong Windows) hay chỉnh sửa các ô dữ liệu được chọn (trong Excel)  
  Shift - F3     Đối với một đoạn văn bản được đánh dấu, tổ hợp phím tắt này sẽ lần lượt đổi văn bản sang sang dạng "tất cả chữ hoa", "tất cả chữ thường" và "chữ hoa đầu". Nhấn Format•Change Case để có nhiều tùy chọn hơn.  
  F5     Cập nhật lại nội dung cho cửa sổ Explorer và trình duyệt web.  
  Ctrl - Esc     Mở trình đơn Start (hữu ích khi chuột không hoạt động).  
  Ctrl - Space     Chuyển đoạn văn bản được đánh dấu sang dạng font chữ mặc định (trong Word).  
  Ctrl - [gạt nút cuộn lên/xuống]     Phóng to / thu nhỏ  
  Windows - L     Khóa máy tính với mật khẩu  
  Windos - R     Mở hộp thoại Run  
  Windows - M hay Windows - D     Thu nhỏ tối đa tất cả cửa sổ  
  Windows - E     Khởi chạy Windows Explorer  

Tạo đĩa khắc phục sự cố

Thật tuyệt vời nếu bạn có trong tay bộ đĩa sao lưu hệ thống của máy tính và đĩa cài đặt Windows. Nhưng nếu máy tính của bạn gặp sự cố, đừng vội format lại đĩa cứng để khôi phục hệ thống từ các đĩa sao lưu ở trên. Tốt hơn bạn cần tạo một đĩa DVD (có tính năng tự khởi động càng tốt) chứa các tiện ích hữu ích để có thể sửa chữa máy tính trước khi buộc lòng phải cài đặt lại Windows.

Đĩa khắc phục sự cố hệ thống cũng cần chứa các trình điều khiển thiết bị (driver) mới nhất, đặc biệt là các thiết bị mạng. Sắp xếp mọi thứ theo từng thư mục và đặt tên sao cho thật ngắn ngọn, dễ hiễu (nhiều khả năng bạn phải duyệt qua các thư mục này từ dấu nhắc dòng lệnh nếu Windows không khởi động được).

Sau đây là vài tiện ích cần thiết cho đĩa khắc phục sự cố. Lưu ý, 2 tiện ích đầu tiên trong danh sách liệt kê bên dưới cần được cài đặt trên đĩa CD/DVD khởi động để chạy ngay từ đầu.

 
Hình 11:
Hot CPU Tester thực hiện nhiều thử nghiệm để cung cấp nhiều thông tin về bộ vi xử lý.

· MemTest86 (www.memtest86.com): công cụ kiểm tra RAM hệ thống

· Active® KillDisk (find.pcword.com/56135): Xóa sạch các ổ đĩa khi được yêu cầu.

· Hot CPU Tester (www.7byte.com): Chẩn đoán sự cố của CPU với các phép thử phức tạp.

· Restoration (find.pcworld.com/56136): Khôi phục các tập tin bị vô tình xóa từ những phân vùng FAT hay NTFS, cũng như thẻ nhớ.

· HDDlife (www.hddlife.com): Giám sát đĩa cứng và cảnh báo khi sự cố sắp xảy ra. Ngoài ra, bạn cũng có thể sử dụng tiện ích này để kiểm tra tình trạng đĩa cứng.

· AOL Active Virus Shield (find.pcworld.com/56109): Công cụ phòng chống virus miễn phí với cơ chế của Kaspersky.

· Spybot Search & Destroy (www.safer-networking.org): Tiện ích phòng chống spyware với tính năng giám sát ở chế độ thời gian thực.

· OpenOffice.org (www.openoffice.org): Một giải pháp tuyệt vời để đọc các tập tin Office khi Microsoft Office không làm việc.

Ngoài ra, bạn cũng nên tải về các đĩa khẩn cấp tạo sẵn sau đây, chúng cung cấp nhiều tiện ích hệ thống.

· Knoppix (www.knoppix.org): Sử dụng đĩa khởi động Linux này để truy xuất các thư mục Windows trên đĩa cứng.

· Ultimate Boot CD (www.ultimatebootcd.com): Chứa hơn 100 tiện ích hệ thống ở mức thấp trên 1 đĩa CD. Tải về miễn phí, đĩa CD đặt mua giá 6USD.

· EBCD (find.pcworld.com/56134): đĩa CD khẩn cấp miễn phí này được thiết kế đặc biệt cho các máy tính gặp sự cố nghiêm trọng hay người dùng chuyên nghiệp.

· Microsoft Boot Disk (find.pcworld.com/56133): Bạn có thể tải về miễn phí các đĩa khởi động hệ điều hành từ Windows XP cho đến MS-DOS 6.

Chuyển tập tin dung lượng lớn qua Internet

Chắc hẳn bạn đã không ít lần cảm thấy bực bội vì không gửi được tập tin đính kèm dung lượng lớn qua email? Đó là do nhà cung cấp dịch vụ email hay người quản trị mạng trong công ty bạn đã thiết lập giá trị giới hạn thường là khoảng 10MB hoặc ít hơn.

May thay, các dịch vụ trực tuyến có thể thực hiện tác vụ này dễ dàng hơn so với việc ghi dữ liệu vào đĩa CD/DVD để gửi qua đường bưu điện. Hiện có rất nhiều dịch vụ dạng này và tốt nhất hiện nay là MediaFire.com. Dịch vụ miễn phí này không yêu cầu đăng ký và không giới hạn dung lượng tập tin, số lần tải về và hỗ trợ nhiều người tải về cùng lúc.

 
Hình 12:
Một trong những dịch vụ lưu trữ, chia sẻ tập tin tốt nhất, MediaFire.com không giới hạn kích thước tập tin và số lần tải về.

Tuy nhiên, bạn cũng có thể sử dụng các dịch vụ được liệt kê bên dưới, mỗi dịch vụ đều có những tính năng độc đáo riêng.

· Files-upload.com: Hỗ trợ tập tin dung lượng 300MB thông qua giao diện web mà không cần đăng ký, thời gian tồn tại cho tập tin là 45 ngày. Nếu đăng ký tài khoản sử dụng, bạn sẽ có được tên miền FTP riêng (ví dụ như pcworld.files-upload.com) để truy xuất từ tiện ích FTP chuẩn. Tập tin bị giới hạn dung lượng ở mức 1GB.

· GigaSize.com: Giới hạn dung lượng tập tin ở mức 1,5GB và thời gian tồn tại là 90 ngày. Nếu đóng phí hàng tháng (4USD), dung lượng tập tin lên đến 2,5GB.

· Pando.com: Giới hạn dung lượng tập tin 1GB, có cung cấp một plug-in cho các trình email, webmail hay gửi nhận Instant Messgage (chat), qua đó bạn có thể truyền nhận tập tin mà không cần ghé qua trang chủ dịch vụ.

· Xdrive.com: Cung cấp miễn phí 5GB dung lượng lưu trữ, cho phép truy xuất thông qua giao diện web hay qua plug-in cho Windows Explorer cho phép chia sẻ tập tin với người dùng khác.

Sao lưu dữ liệu trên điện thoại di động

Hiện nay, ngày càng nhiều người dùng có xu hướng lưu trữ dữ liệu thiết yếu trên điện thoại di động vốn dễ thất lạc hay hỏng hóc đột xuất. Để an toàn, bạn nên sao lưu chúng.

• Đầu tiên, kiểm tra tài liệu hướng dẫn sử dụng đi kèm hay trên website hãng sản xuất để tìm ra tiện ích sao lưu được thiết kế đặc biệt cho điện thoại này. Đối với các điện thoại sử dụng đầu nối USB, nối điện thoại vào máy tính bằng cáp USB và sau đó sử dụng phần mềm để sao lưu toàn bộ danh bạ liên lạc sang máy tính.

   

Sắp xếp lại thanh tác vụ
Hãy tải về tiện ích miễn phí Taskbar Shuffle tại địa chỉ find.pcworld.com/56111. Với tiện ích bổ sung này, bạn có thể kéo thả các đối tượng trên tác vụ sang vị trí khác. Lưu ý, một số tiện ích phòng chống virus và spyware có thể cảnh báo nhầm Taskbar Shuffle là phần mềm nguy hại (malware).

 

· Nếu điện thoại của bạn không có phần mềm như vậy, hãy sử dụng FutureDial SnapSync (30USD, find.pcworld.com/56126). Tiện ích này hỗ trợ hầu hết các model điện thoại di động, bạn có thể nhấn vào liên kết Is my phone supported trên trang chủ để xác định xem điện thoại của mình có thể sử dụng phần mềm này được hay không. Nếu SnapSync không hỗ trợ, bạn nên nghĩ đến giải pháp Susteen DataPilot Universal Pro (80USD, www.susteen.com), bao gồm 7 đầu nối điện thoại, bộ chuyển đổi dành cho iPod và Bluetooth, phần mềm sao lưu. Susteen hỗ trợ hàng trăm loại điện thoại nhưng bạn cần kiểm tra xem điện thoại của mình có trong danh sách này hay không tại địa chỉ http://susteen.com/phone_support_pro.asp .

· Đối với các điện thoại lưu danh bạ trong thẻ SIM, bạn có thể sử dụng thiết bị Clipper Gear SIM Saver (20USD, find.pcworld.com/56124) để sao lưu, tuy nhiên bạn không thể sao lưu SIM Saver sang máy tính. Tại Việt Nam, bạn có thể tìm thấy thiết bị tương tự ở các cửa hàng bán linh kiện máy tính hay điện thoại di động (tham khảo thêm bài viết "Đầu đọc thẻ SIM - Sao lưu dữ liệu ĐTDĐ", ID: A0505_84).

· Một giải pháp là sử dụng thiết bị CellStik của hãng Spark Technology (40USD, www.sparktech.com), trông giống một bút nhớ USB và có thể cắm trực tiếp vào điện thoại di động. Đầu nối USB còn lại giúp bạn nối thiết bị này vào máy tính để sao lưu và chỉnh sửa dữ liệu. Sau đó, bạn có thể chuyển những dữ liệu này vào lại điện thoại.

Xóa dấu vết trên Windows và web

Hình 13:
Với Tweak UI, bạn có thể ngăn việc giám sát của Windows Explorer.
 

Nếu bạn chia sẻ một máy tính với đồng nghiệp hay người thân trong gia đình, hay sử dụng các máy tính công cộng tại một hội nghị thì chắc chắn bạn sẽ muốn xóa sạch mọi dấu vết về những gì mình vừa thực hiện mỗi khi bạn thoát khỏi hệ thống.

Trước tiên, thiết lập trình duyệt cho việc duyệt web nhạy cảm và chỉ sử dụng trình duyệt này khi bạn cần đến sự bảo mật tối đa. Hãy xóa toàn bộ nhật ký trình duyệt và cấu hình sao cho nó lưu giữ càng ít thông tin càng tốt (xem bảng).

Bạn cũng có thể dọn sạch nhật ký Windows của máy tính mà bạn sở hữu hay chia sẻ, nhưng cách dễ dàng nhất để vô hiệu hóa những cặp mắt tò mò là ngăn cản việc sao lưu chúng. Bạn hãy tải về tiện ích Tweak UI (xem mục "Công cụ tinh chỉnh Windows" ở trang 80) và thực hiện theo các bước sau:

· Ở mục Explorer, chọn Clear document history on exit, bỏ chọn đối với Allow Recent Documents on Start menu, Maintain document history và Maintain network history.

· Ở mục Common Dialogs, bỏ chọn Enable AutoComplete và Remember previously-used filenames.

  Trình duyệt     Xóa tự động     Xóa thủ công  
  Internet Explorer 6     Chọn Tools•Internet Options đặt giá trị "Days to keep pages in history" là 0     Trong mục Internet Options, nhấn Delete Cookies, Delete Files và Clear History.  
  Internet Explorer 7     Chọn Tools•Internet Options; bên dưới mục Browsing history, nhấn Settings. Đặt giá trị "Days to keep pages in history" là 0.     Chọn Tools•Delete Browsing History và rồi chọn Delete All.  
  Firefox 2     Chọn Tools•Privacy; bỏ tất cả tùy chọn bên dưới mục History. Đánh dấu chọn "Always clear my private data when I close Firefox".     Chọn Tools•Privacy, rồi nhấn Clear Now...  

Chuẩn hóa màu sắc màn hình

 
Hình 14:
Tiện ích miễn phí Monitor Calibration Wizard thực hiện nhiều thử nghiệm để thiết lập profile màu sắc cho màn hình.

Thiết lập màu sắc trung thực cho màn hình là một công việc "đắt đỏ" do đòi hỏi phần mềm và thiết bị chuyên dụng. Sau đây là cách giúp bạn có thể làm cho màn hình của mình hiển thị màu sắc chính xác hơn mà không phải tốn thêm chi phí.

Đầu tiên, bạn tải về tiện ích miễn phí Monitor Calibration Wizard (find.pcworld.com/56119). Khi chạy wizard này, bạn sẽ được hướng dẫn thực hiện vài thử nghiệm đơn giản.

Sau đó, lưu dữ liệu cấu hình (profile) với một cái tên do bạn tự đặt. Chọn profile này bên dưới hộp thoại Load Profile và đánh dấu mục Load at Windows startup. Màu sắc màn hình sẽ được sửa theo đúng profile mới này mỗi khi bạn khởi động máy tính. Bạn có thể không nhận thấy nhiều khác biệt trừ khi màn hình trước đây hiển thị quá tệ.

Ngoài ra, còn có một số công cụ chỉnh sửa màu sắc miễn phí khác được tạo riêng cho từng nhãn hiệu card đồ họa. RivaTuner (find.pcworld.com/56118) được thiết kế chủ yếu cho hệ thống sử dụng card nVidia (đi kèm dòng GeForce 7) trong khi ATITool (find.pcworld.com/56117) là một thành phần của card ATI.

Giải mã biểu tượng trên máy ảnh số

 

Sắp thứ tự trình đơn Start
Chọn Start•All Programs (hay Start•Programs), nhấn phải chuột lên bất kỳ mục nào và chọn Sort by Name. Bạn sẽ phải thực hiện tác vụ này mỗi khi cài đặt một phần mềm mới vào hệ thống.

 

 

Bạn không hiểu rõ ý nghĩa của các biểu tượng nhỏ trên bánh xe điều khiển ở máy ảnh số, hãy đọc tài liệu hướng dẫn sử dụng đi kèm (thường mất khá nhiều thời gian). Mỗi biểu tượng này tượng trưng cho một chế độ chụp riêng và việc chọn đúng chế độ chụp sẽ giúp ảnh chụp đẹp hơn.

Sau đây là ý nghĩa của vài biểu tượng thông dụng và cách thức mà chúng làm việc. Lưu ý, mỗi model máy ảnh được thiết kế khác nhau vì thế bạn có thể nhận thấy vài sự khác biệt so với các biểu tượng bên dưới. Ngoài ra, vài chế độ chụp không xuất hiện trên bánh xe điều khiển, thay vào đó là trong trình đơn.

Tự động (Automatic): Thiết lập đèn flash và chế độ lấy nét ở chế độ tự động, sử dụng các thông số khác ở mức trung bình. Đây thường là chế độ mặc định trên máy ảnh số và trong vài trường hợp còn được ghi là AUTO.

Chụp gần (Close-up): Chụp ảnh trong khoảng cách chừng 0,6m hoặc gần hơn. Lưu ý, đèn flash có thể không hoạt động trừ khi bạn thiết lập thủ công ở chế độ này.

Chụp xa (Landscape): Dùng để chụp các đối tượng ở xa. Không nên sử dụng flash. Trong vài máy ảnh, chế độ này được tượng trưng bằng tiểu tượng 8.

Chụp thể thao (Sport mode): Dùng để chụp các đối tượng đang chuyển động. Thiết lập tốc độ chụp lên mức nhanh nhất và sử dụng đèn flash khi cần thiết.

   

Gỡ bản quyền số khỏi tập tin nhạc
Apple iTunes, MTV Urge và các dịch vụ tải nhạc trực tuyến tương tự giúp cho việc mua nhạc dễ dàng hơn. Tuy nhiên công nghệ quản lý bản quyền số (DRM) nhúng trong các tập tin nhạc đem đến cho người dùng sự phiền toái, hạn chế nơi và số lần bạn có thể nghe. Vài ứng dụng qua mặt DRM bằng cách "bẻ khóa" các thông tin mã hóa nhưng điều này được xem là bất hợp pháp. Bạn có thể thực hiện tương tự theo cách sau:
1 Tạo một danh sách chứa tất cả bài nhạc mà bạn muốn chép.
2 Sử dụng tính năng Burn Disc (ghi đĩa) để chép nhạc lên CD ở định dạng audio-CD.
3 Sau đó đổi tên các tập tin nhạc gốc.
4 Đưa vào đĩa CD mới ghi, nhấn Import CD để chép các bài nhạc trở lại vào iTunes hay bất kỳ trình chơi nhạc nào mà bạn thường sử dụng. Lúc này, chúng sẽ vượt qua được DRM.

 

Chụp đêm (Night mode): Chụp ảnh dưới điều kiện ánh sáng thấp. Sử dụng tốc độ chụp chậm và nên sử dụng đèn flash. Biểu tượng này cũng tượng trưng cho chế độ chụp ánh sáng ngược (backlight), có khả năng sử dụng flash ở mức mạnh nhất để bù sáng cho đối tượng bị che tối.

Chụp chân dung (Portrait mode): Xóa phông nền và loại bỏ mắt đỏ.

Quay phim (Video mode): Quay đoạn video ngắn.

Ổn định ảnh (Image Stabilization): Bật tính năng này để chống lại hiện tượng rung tay,

Chụp ưu tiên khẩu độ (Aperture-Priority mode): Bạn phải thủ công xác định thông số khẩu độ (đường kính của ống kính) và máy ảnh sẽ kiểm soát tốc độ chụp.

Chụp uu tiên tốc độ (Shutter-Priority mode): bạn phải thủ công xác định tốc độ chụp và máy ảnh sẽ kiểm soát khẩu độ.

Chụp thủ công (Manual mode): chế độ này cho phép bạn toàn quyền kiểm soát tốc độ và khẩu độ chụp của máy ảnh.

Phân vùng đĩa cứng

Hình 15:
Trong công cụ Disk Management của Windows, bạn sẽ thấy các ổ đĩa và có thể phân vùng chúng một cách dễ dàng.
 

Nếu đĩa cứng hết chỗ thì đã đến lúc bạn phải bổ sung một đĩa cứng mới hay chỉ là cấu hình lại đĩa cứng cũ. Không nhất thiết phải thiết lập nhiều phân vùng (mỗi phân vùng có tên ổ đĩa riêng) ngay cả với đĩa cứng có dung lượng lớn nhất vì BIOS có thể quản lý tất cả dữ liệu trên một phân vùng. Tuy nhiên, việc phân vùng đĩa cứng vẫn còn hữu ích cho công tác quản lý và bạn có thể tạo một phân vùng riêng cho việc chia sẻ trong mạng nội bộ, lưu trữ driver các thiết bị hay các tập tin cài đặt phần mềm. Hoặc bạn muốn sử dụng một phân vùng để cài hệ điều hành và các ứng dụng cần thiết, một phân vùng khác dành cho dữ liệu - việc sao lưu cũng sẽ dễ dàng hơn.

· Phân vùng khi bạn cài đặt Windows: Sử dụng hệ thống phân vùng của Windows Setup để thiết lập các phân vùng thích hợp khi bạn cài đặt Windows. Định dạng các phân vùng này ở chuẩn NTFS. Sau khi cài Windows xong, hãy chép những dữ liệu mà bạn cần từ đĩa cứng cũ sang đĩa cứng mới. Bạn có thể cất đĩa cứng cũ hoặc xóa sạch dữ liệu trên đó để sử dụng như một đĩa cứng bổ sung.

· Phân vùng trong Windows: Để cài đặt một ổ đĩa mới hay hiện có trong Windows, bạn chọn Start•Settings•Control Panel, nhấn Administrative Tools•Computer Management•Storage•Disk Management. Ổ đĩa của bạn sẽ xuất hiện; các ổ đĩa mới sẽ được hiển thị là các phân vùng chưa định dạng. Để phân vùng ổ đĩa mới này, nhấn phải chuột lên phân vùng chưa định dạng và chọn New Partition; sau đó định dạng mỗi phân vùng, nhấn phải chuột lên phân vùng và chọn New Logical Drive.

   

Vô hiệu hóa phím Insert
Phím Insert thường đem đến cho người dùng (đặc biệt khi sử dụng Word) nhiều phiền phức. Đây là cách đơn giản nhất để vô hiệu hóa nó: Trong Word, chọn Tools•Customize•Options •Keyboard. Ở hộp thoại Categories (ở khung cửa sổ bên trái), chọn All Command. Ở hộp thoại Current keys, chọn Insert và nhấn Remove.

 

Nhiều công cụ khác của các hãng thứ 3 cung cấp khả năng dễ dàng quản lý phân vùng và bảo trì đĩa cứng. Norton PartitionMagic (70USD, find.pcworld.com/56116) và Diskeeper Home (30USD, find.pcworld.com/56115) có thể đơn giản hóa việc thực hiện nếu bạn không thích các công cụ của Windows. Người dùng với nhiều kinh nghiệm nâng cấp máy tính có thể tiết kiệm được chút ít tài chính khi bổ sung một đĩa cứng mới bằng cách mua đĩa cứng dạng "thô" - không kèm phụ kiện, tiện ích hay hệ điều hành. Những đĩa cứng như trên sẽ làm việc tốt nếu bạn không có ý định sử dụng nó như một đĩa cứng khởi động hay nếu bạn muốn cài mới Windows (tham khảo cách thực hiện tại find.pcworld.com/56114).

More about